vanban.org

Bản án 80/2026/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các Điều: 5; 6; 26; 35; 39; 147; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều: 584; 585; 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Các Điều: 5; 6; 26; 35; 39; 147; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2026/DS–ST
Ngày: 17- 3 - 2026
V/v “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gầm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiệt

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tăng Tài Thủ

2. Bà Thái Ánh Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2026/DS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2026, về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 451/2026/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm V – sinh năm 1970. Có mặt

Cư trú: số nhà A, ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Ông Phạm Văn M – sinh năm 1990. Vắng mặt

Cư trú: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông M: Bà Phạm Thị K, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy uỷ quyền chứng thực Số 06, quyển số 01/2026-SCT/CK,ĐC ngày 21/01/2026 tại Trung tâm phục vụ hành chính công – Ủy ban nhân dân xã T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Cẩm V trình bày:

Vào khoảng 08 giờ ngày 22/9/2025, bà Nguyễn Thị Cẩm V sang nhà con gái để tắm cho cháu, không biết lý do gì Phạm Văn M xông ra chửi bới nhục mạ bà. Anh M cầm vật gì đó ném thẳng vào mặt bà V, và tiếp tục lao vào đấm vào đầu và mặt bà, bà V choáng váng ngồi sụp xuống đất. Sau đó được mọi người can ngăn và đưa bà V đến Bệnh viện Đ điều trị. Đến ngày 23/9/2025 thì xuất viện về nhà tiếp tục uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Bà Nguyễn Thị Cẩm V khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh Phạm Văn M phải bồi thường cho bà số tiền thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm là 112.673.000 đồng. Trong đó, tiền thuốc men điều trị tổng số tiền là 6.273.000 đồng; tiền xe đi khám bệnh là 6.400.000 đồng; tiền bồi thường tổn thất sức khoẻ, tinh thần 100.000.0000 đồng. Đối với số tiền thuốc men điều trị bà đã nộp cho Toà án các hoá đơn điều trị, đối với tiền thuê xe đi khám bệnh thì do thuê xe bên ngoài không có giấy tờ hoá đơn nên không có gì để nộp cho Toà án, yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định.

- Bị đơn ông Phạm Văn M có người đại diện theo uỷ quyền là bà Phạm Thị K trình bày:

Giữa gia đình ông Phạm Văn M với gia đình bà Nguyễn Thị Cẩm V có mâu thuẫn từ chuyện tranh chấp đất đai trước đó, bà V nhiều lần có lời nói, hành động khiêu khích thách thức khiến cho tình hình thêm căng thẳng. Vào ngày 22/9/2025, do không kiềm chế được cảm xúc lúc tranh cải nên giữa ông M và bà V đã xảy ra xô xát. Ông M có dùng tay đánh bà V làm bà bị bầm vùng mắt, tổn thương phần mềm không ảnh hưởng chức năng cơ thể, không để lại di chứng.

Nay qua yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông M đồng ý bồi thường tiền thuốc men điều trị cho bà V số tiền 6.273.000 đồng và hỗ trợ một phần tiền xe đi điều trị là 4.000.000 đồng. Đối với khoản tổn thất tinh thần thì ông M không đồng ý do chưa phù hợp với mức độ thiệt hại thực tế.

Tại phiên toà, nguyên đơn giảm số tiền yêu cầu bồi thường, cụ thể như sau: tiền thuốc men điều trị 6.273.000 đồng, tiền xe đi khám bệnh 4.000.000 đồng, tiền bồi thường tổn thất sức khoẻ, tinh thần 11.700.000 đồng; tổng cộng là 21.973.000 đồng. Đại diện bị đơn đồng ý bồi thường nhưng xin được giao dần mỗi tháng 2.000.000 đồng. Nguyên đơn không đồng ý cho bị đơn giao dần số tiền bồi thường.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành của những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng thời gian và phương thức giao tiền sẽ được giải quyết trong quá trình thi hành án dân sự. Các vấn đề khác đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe do bị đơn đánh gây thương tích cho nguyên đơn. Bị đơn cho rằng sự việc ấu đả xảy ra là có lỗi của cả hai phía nên chỉ đồng ý bồi thường một phần. Đây là quan hệ pháp luật ''Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ theo quy định tại các khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật Số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ.

Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Tòa án đã hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được, nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định pháp luật. Tại phiên toà, bị đơn vắng mặt nhưng có người đại diện theo uỷ quyền tham gia phiên toà, nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử là phù hợp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo trình bày của các bên đương sự, do có mâu thuẫn về chuyện tranh chấp đất đai từ trước, nên gia đình bà V với gia đình anh M có xảy ra cự cải, xích mích. Vào ngày 22/9/2025, giữa anh M và bà V xảy ra xô xát, anh M có dùng tay đánh bà V làm bà V bị thương bầm vùng mắt và được đưa đi Bệnh viện Đ điều trị, đến ngày 23/9/2025 thì được cho xuất viện về nhà tiếp tục uống thuốc điều trị.

Thấy rằng, theo lời trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ thu thập được, có cơ sở xác định tổn thương vùng mắt của bà V là do anh M dùng tay đánh gây ra vào ngày 23/9/2025. Hậu quả bà V phải đi điều trị tại bệnh viện và tốn kém các khoản chi phí. Trong đó bà V yêu cầu anh M bồi thường cụ thể như sau: tiền thuốc men điều trị 6.273.000 đồng, tiền xe đi khám bệnh 4.000.000 đồng, tiền bồi thường tổn thất sức khoẻ, tinh thần 11.700.000 đồng; tổng cộng là 21.973.000 đồng. Đại diện bị đơn đồng ý bồi thường nhưng xin được giao dần mỗi tháng 2.000.000 đồng, nguyên đơn không đồng ý cho bị đơn giao dần số tiền bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về số tiền bồi thường do có cơ sở được phía bị đơn chấp nhận; còn về thời gian, phương thức giao tiền bồi thường do các bên không thống nhất được nên sẽ do cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết trong giai đoạn thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Bị đơn phải chịu án phí tương ứng số tiền phải bồi thường là 5% x 21.973.000 đồng = 1.098.650 đồng.

Ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có cơ sở như đã phân tích.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều: 5; 6; 26; 35; 39; 147; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều: 584; 585; 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Buộc ông Phạm Văn M bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Cẩm V với số tiền tổng cộng là 21.973.000 đồng (hai mươi mốt triệu, chín trăm bảy mươi ba ngàn đồng); trong đó: tiền thuốc điều trị là 6.273.000 đồng, tiền xe đi khám chữa bệnh là 4.000.000 đồng và tổn thất tinh thần là 11.700.000 đồng. Thời gian, phương thức thanh toán do Thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết trong giai đoạn thi hành án.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành số tiền nói trên thì còn phải trả thêm tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí.

Bị đơn phải chịu án phí là 1.098.650 đồng (một triệu, không trăm chín mươi tám ngàn, sáu trăm năm mươi đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, ngưòi phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ