vanban.org

Bản án 80/2025/LĐ-ST — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H đối với bị đơn Công ty TNHH M về việc Tranh chấp bảo hiểm xã hội. Buộc Công ty TNHH M phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội còn nợ cho bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1978; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, mã số BHXH 7412059855 tại Bảo hiểm xã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "tranh chấp bảo hiểm xã hội"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/LĐ-ST
Ngày: 25 - 11 - 2025
V/v: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu;

2. Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thư ký Tòa án nhân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 160/2025/TLST-LĐ ngày 05 tháng 8 năm 2025 về việc Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐXXST-LĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2025/QĐST-LĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1979; địa chỉ: A tổ H, ấp D, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là A tổ H, ấp D, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH M; địa chỉ: 4 tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là 40/3 tổ C, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội cơ sở L, địa chỉ: Đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H trình bày:

Bà Lê Thị Hồng H vào làm việc tại Công ty TNHH M từ năm 2012, có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, vị trí là Công nhân may, mức lương theo hợp đồng là 5.214.000 đồng.

Đến tháng 8 và 9/2024, công ty không thanh toán tiền lương cho bà H, số tiền là 15.000.000 đồng. Sau nhiều lần yêu cầu, công ty đã thanh toán cho bà H được 3.000.000 đồng, còn nợ 12.000.000 động. Đến ngày 24/9/2024 Công ty đóng cửa không hoạt động, nợ tiền lương 12.000.000 đồng, nợ tiền bảo hiểm xã hội của bà H từ tháng 7/2023 đến tháng tháng 9/2024.

Quá trình tố tụng, bà H có đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH M đóng bảo hiểm xã hội cho bà H từ tháng 7/2022 đến tháng 9/2024 và chốt sổ bảo hiểm cho bà H, không yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lương.

Bị đơn Công ty TNHH M đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu trình bày:

Bà Lê Thị Hồng H, sinh ngày 09/9/1978, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ở các mã số BHXH 7412059855 từ tháng 11/2012 đến tháng 4/2025. Từ tháng 5/2025 đã giảm căn cứ Công văn số 1880 của BHXH Việt Nam ngày 21/6/2023, phiếu trình 29/5/2025, giấy ngừng hoạt động và công văn của thuế số 3051/TAN-QLDN ngày 07/5/2025.

Tính đến ngày 01/8/2025, Công ty TNHH M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm của bà H là 35.042.112 đồng chưa bao gồm tiền lãi. Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và yêu cầu giải quyết vắng mặt suốt quá trình tố tụng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình thụ lý, giải quyết cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Công văn số 264/CV-BHXH ngày 15/8/2025 của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu xác định bà H có quá trình tham gia bảo hiểm tại Công ty TNHH M từ tháng 11/2012 đến tháng 6/2022. Từ tháng 7/2022, Công ty đã trừ lương của bà H hàng tháng nhưng không trích đóng bảo hiểm xã hội, không xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà H là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà H. Do đó, căn cứ khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, khoản 3 Điều 48 của Bộ luật Lao động đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Hồng H khởi kiện Công ty TNHH M có trụ sở tại 4 khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu đóng tiền bảo hiểm xã hội và xác nhận thời gian tham gia bảo hiểm xã hội nên quan hệ pháp luật là Tranh chấp về bảo hiểm xã hội và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 1 Điều 32; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự có mặt đương sự: Nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Bà Lê Thị Hồng H vào làm việc tại Công ty TNHH M từ năm 2012, đến tháng 9/2024 thì nghỉ việc do công ty đóng cửa ngưng hoạt động, công ty chưa thanh toán tiền lương cho bà H nhưng nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH M đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 7/2022 đến tháng 9/2024 và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà H.

Theo Công văn số 264/CV-BHXH ngày 15/8/2025 của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu xác định: Bà Lê Thị Hồng H sinh ngày 09/9/1978 căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ở các mã số BHXH 7412059855 từ tháng 11/2012 đến tháng 4/2025 tại Công ty TNHH M. Từ tháng 5/2025 đã giảm căn cứ Công văn số 1880 của BHXH Việt Nam ngày 21/6/2023. Tính đến ngày 01/8/2025, Công ty TNHH M còn nợ các khoản tiền bảo hiểm của bà H là 35.042.112 đồng chưa bao gồm tiền lãi.

Theo Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định: Người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội; đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hàng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội. Mặt khác, theo Điều 48 Bộ luật Lao động quy định: Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Như vậy, Công ty TNHH M đã vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội.

Từ những nhận định nêu trên trên, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH M phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Hồng H từ tháng 7/2022 đến tháng 9/2024 và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà H là có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn Công ty TNHH M phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 32; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 48 Bộ luật Lao động.

- Các Điều 17, 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H đối với bị đơn Công ty TNHH M về việc Tranh chấp bảo hiểm xã hội.

- Buộc Công ty TNHH M phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội còn nợ cho bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1978; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, mã số BHXH 7412059855 tại Bảo hiểm xã hội cơ sở L từ tháng 7/2022 đến tháng 9/2024. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.

- Buộc Công ty TNHH M thực hiện xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Hồng H theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Công ty TNHH M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn

đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ