vanban.org

Bản án 80/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 20/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Thị Thu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 01 năm 2025. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu T Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HS-ST
Ngày: 20-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hậu

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

-Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST-HS ngày 07/05/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu T; sinh năm 1989 tại tỉnh Khánh Hòa; HKTT: 50/33 đường V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: khu phố A, phường Đ, thành phố P- T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Bi O, sinh năm 1959 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1967; Bị cáo chưa có chồng con;

Tiền án: 02 tiền án;

- Ngày 26/11/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo Bản án số 275/2012/HSST.

- Ngày 30/9/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Theo Bản án số 249/2008/HSST.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 08/6/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 112/2007/HSST);

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 19/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 22/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố P, Trại tạm giam công an tỉnh B (có mặt)

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1995; nơi cư trú: Khu phố Ô, phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 19/01/2025, Nguyễn Thị Thu T đi xe khách từ tỉnh Ninh Thuận đến gặp bạn ở thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi xe khách đi đến khu vực chợ L1 thuộc khu phố P, phường P, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì T xuống xe. T đi bộ vào chợ L1. Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, T nhìn thấy chị Nguyễn Thị Thúy L đang ngồi lựa trái cây, chị L để chiếc túi xách bên cạnh. T đi đến vị trí của chị L rồi lén lút lấy chiếc túi, sau đó nhanh chóng bỏ đi. Khi T đi được khoảng 15m thì bị người dân phát hiện, tri hô, đuổi theo nên T đã vứt chiếc túi xách xuống đường rồi bỏ chạy nhưng bị người dân truy đuổi và bắt giữ sau đó bàn giao cho Công an phường P. Tang vật thu giữ gồm có: 01 chiếc túi xách bằng da màu trắng, tay xách màu nâu, nhãn hiệu Pedro bên trong có 06 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng), 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng), 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng), 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 2.000 đồng (hai nghìn đồng).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã P (nay là thành phố P), kết luận: 01 chiếc túi xách bằng da màu trắng, tay xách màu nâu, nhãn hiệu Pedro, mua tháng 10/2024. Tại thời điểm ngày 19/01/2024, tài sản có giá trị là 1.700.000 đồng (BL số 28).

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thị Thu T đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thúy L là 4.852.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 81/CT - VKSPM ngày 14/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Thị Thu T về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thực hành quyền công tố tại phiên tòa, trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 81/CT - VKSPM ngày 14/4/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội "Trộm cắp tài sản”. Đề nghị căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị Thu T từ 03 năm đến 04 năm tù.

Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thúy L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nói lời nói sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 40 phút, ngày 19/01/2025, tại khu vực chợ L1, thuộc phố P, phường P, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Thị Thu T có hành vi trộm cắp một chiếc túi xách bằng da màu trắng, tay xách màu nâu, nhãn hiệu Pedro có giá trị: 1.700.000 đồng, bên trong túi xách có số tiền 3.152.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thúy L. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thị Thu T đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Thúy L là 4.852.000 đồng. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác của T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Trước đó, Nguyễn Thị Thu T là người có 02 tiền án. Trong đó tại Bản án số 275/2012/HSST ngày 26/11/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xác định bị cáo “tái phạm”. Do đó lần phạm tội này thuộc tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Do vậy, Cáo trạng số 81/CT - VKSPM ngày 14/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Hành vi bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, ý thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, để bị cáo thấy được những sai phạm của mình và sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thúy L không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Ngày 19/3/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trả lại 01 chiếc túi xách bằng da màu trắng, tay xách màu nâu, nhãn hiệu Pedro và số tiền 3.152.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Thúy L.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Thị Thu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 01 năm 2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ