vanban.org

Bản án 80/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích D1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích D1 được ly hôn ông Hồ Văn N (Nhãn). Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Hồ Ngọc K, sinh ngày 14/01/2013. Bà D1 được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà D tranh chấp yêu cầu ly hôn với bị đơn ômg Nh"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích D1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14-5-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Phong và ông Nguyễn Tấn Hậu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều D - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2025/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 196/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích D1, sinh năm 1987;

Cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Hồ Văn N (N1), sinh năm 1973;

Cư trú: Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích D1 trình bày:

- Về hôn nhân: Bà D1 và ông N (Nhãn) do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 26/4/2012. Sau một thời gian sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021. Nay nhận thấy tình cảm đã không còn nên bà D1 yêu cầu được ly hôn với ông N (Nhãn).

- Về con chung: Bà D1 và ông N (Nhãn) có 01 con chung tên Hồ Ngọc K, sinh ngày 14/01/2013, hiện do bà D1 nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà D1 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D1 không yêu cầu ông N (Nhãn) cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Hồ Văn N (Nhãn) đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của D1. Tại phiên tòa, ông Hồ Văn N (Nhãn) tiếp tục vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích D1. Về con chung, giao 01 (một) con chung tên Hồ Ngọc K, sinh ngày 14/01/2013 cho bà D1 tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Bích D1 khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con với ông Hồ Văn N (Nhãn). Ông N (N1) cư trú tại Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Hồ Văn N (Nhãn) được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích D1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. [2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích D1 và ông Hồ Văn N (Nhãn) tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 85, ngày 26/4/2012, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình giải quyết, bà D1 xác định không còn tình cảm với ông N (Nhãn), vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn. Ông N (Nhãn) vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà D1 về tranh chấp ly hôn; không cung cấp, giao nộp chứng cứ. Tại phiên tòa, ông N (N) tiếp tục vắng mặt không lý do, thể hiện ông N (Nhãn) không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà D1 và ông N (Nhãn) đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì sẽ không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D1.

Về con chung: Bà D1 và ông N (Nhãn) có 01 (một) con chung tên Hồ Ngọc K, sinh ngày 14/01/2013. Hiện con chung đang do bà D1 nuôi dưỡng và chăm sóc. Tại Biên bản ghi ý kiến con chung ngày 21/3/2025, cháu Hồ Ngọc K có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là bà Nguyễn Thị Bích D1. Do đó, để ổn định cuộc sống và đảm bảo cho cháu D1 phát triển tốt về mọi mặt khi bà D1 và ông N (Nhãn) ly hôn, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K cho bà D1 tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Bà D1 cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông N (Nhãn) trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hồ Ngọc K. Trường hợp ông N (Nhãn) lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà D1 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông N (Nhãn).

Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà D1 là người được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không có yêu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông N (Nhãn) không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Đương sự có tranh chấp, thì khởi kiện vụ kiện khác theo quy định.

Về thông tin tên bị đơn: Theo kết quả xác minh tại Công an xã M - Công an tỉnh A thể hiện: “Hồ Văn N1, sinh năm 1973 có đăng ký thường trú tại ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang”. Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và Giấy khai sinh con chung đều thể hiện tên của bị đơn là Hồ Văn N. Tên gọi “Nhản” do nguyên đơn cung cấp là không chính xác về chính tả so với tên “Nhãn” mà cơ quan công an cung cấp, còn các thông tin khác đều trùng nhau. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định ông N và ông N1 là cùng một người.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích D1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích D1.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích D1 được ly hôn ông Hồ Văn N (Nhãn).

- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Hồ Ngọc K, sinh ngày 14/01/2013. Bà D1 được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

Bà D1 cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông N (Nhãn) trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hồ Ngọc K. Trường hợp ông N (Nhãn) lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà D1 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông N (Nhãn).

Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích D1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002374, ngày 26/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà D1 đã nộp đủ tiền án phí.

Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bích D1, ông Hồ Văn N (Nhãn) được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ