vanban.org

Bản án 80/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Hoàng Y về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Cu T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Hoàng Y được ly hôn với anh Trần Cu T. Về con chung: Giao cháu Trần Huyền A, sinh ngày 15/4/2020 cho chị Lương Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Trần Cu T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "C Y yêu cầu ly hôn với anh T, con chung không cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không có"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Hoàng Y về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Cu T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài.

Ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 261/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lương Hoàng Y, sinh năm: 1997.

Trú tại: Tổ 2B, ấp 6, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Trần Cu T, sinh năm: 1991.

Trú tại: Đường 19/5, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và các biên bản có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lương Hoàng Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau nên tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào năm 2018. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh T không quan tâm gia đình, không phụ lo tài chính nuôi con, vợ chồng không chung sống với nhau 05 năm nay, hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có một người con chung là cháu Trần Huyền A, sinh ngày 15/4/2020. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu Huyền A, tạm thời không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Bị đơn anh Trần Cu T trình bày:

Tòa án nhiều lần triệu tập anh T làm việc, nhưng anh T vắng mặt nên không có trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của Y là có cơ sở chấp nhận, nên đề nghị cho chị được ly hôn với anh T. Về con chung: Có một con chung và chị Y yêu cầu được nuôi con và chị Y có công việc ổn định nên đề nghị giao con chung cho chị Y nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung: Chị Y trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị Y phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Lương Hoàng Y nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Trần Cu T, sinh năm: 1991, địa chỉ: Đường 19/5, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về thủ tục tố tụng:

Chị Y nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.

Chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt, nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 - Về quan hệ hôn nhân:

Chị Y và anh T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 19/01/2018 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Y kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh T, hiện nay vợ chồng anh chị không còn quan tâm đến nhau, hôn nhân không hạnh phúc và anh chị đã sống riêng; đồng thời anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc và tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, thể hiện việc anh không muốn hàn gắn, hòa giải đoàn tụ với chị Y. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa chị Y và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Y yêu cầu ly hôn với anh T là có cơ sở chấp nhận và phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 - Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Trần Huyền A, sinh ngày 15/4/2020. Chị Y trình bày, trường hợp ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung, tạm thời chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng; Xét trình bày của chị Y nhận thấy: Cháu Huyền A là bé gái, cháu sinh sống với chị Y từ nhỏ, đồng thời chị Y cũng có công việc ổn định, chị và cháu đang sống cùng ông bà ngoại nên có sự hỗ trợ của ông bà trong việc chăm sóc cháu. Như vậy, để đảm bảo cháu có cuộc sống ổn định, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Y, giao cháu Huyền A cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

3.3 - Về tài sản chung, nợ chung: Chị Y trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Hoàng Y về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Cu T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Hoàng Y được ly hôn với anh Trần Cu T.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Huyền A, sinh ngày 15/4/2020 cho chị Lương Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Trần Cu T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Cu T được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lương Hoàng Y phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000872 ngày 19/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Chị Lương Hoàng Y đã nộp đủ án phí.

5. Chị Lương Hoàng Y, anh Trần Cu T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ