- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty JIVF - Lê Tuấn V - Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2 JACCS.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2025/DS-ST Ngày: 30/9/2025 V/v “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hồng Trinh, bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2025/TLST–DS ngày 24/6/2025 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-DS ngày 28/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T2 JACCS (viết tắt là JIVF); địa chỉ: Tầng A Tòa nhà C, 7 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc phường X, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Narita C, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Việt N, chức vụ: Phó Bộ phận Quản lý công nợ, theo giấy uỷ quyền số 65/2024/UQ-JIVF ngày 20/8/2024.
Người được uỷ quyền lại: Công ty L; địa chỉ: Đường L, khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc phường H, thành phố Đà Nẵng). Người đại diện: Ông Nguyễn Thành C1, chức vụ: Giám đốc, theo Hợp đồng uỷ quyền số 248/2025/UQ-JIVF-LM ngày 27/8/2025. Công ty L uỷ quyền lại cho bà Nguyễn Thị D, sinh năm 2002 và bà Đỗ Thị Kim T, sinh năm 2002; cùng địa chỉ: Số D N, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc phường N, tỉnh Quảng Ngãi), theo Hợp đồng uỷ quyền số 134A/2025/UQ-TT ngày 27/8/2025 (bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Tuấn V, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn T, xã A, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc xã A, tỉnh Quảng Ngãi), (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Công ty T2 JACCS trình bày:
Ngày 29/11/2022, ông Lê Tuấn V ký hợp đồng tín dụng số 910150003460674000 với JIVF vay tiền mặt theo hình thức trả góp hàng tháng.
Số tiền vay 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng; lãi suất 52.2 %/năm; thời hạn vay 12 tháng. Thực hiện hợp đồng, JIVF đã giải ngân số tiền trên theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và ông V đã nhận đủ tiền vay.
Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng thì ông V có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc, lãi và phí trong vòng 12 tháng, mỗi tháng ông V phải thanh toán cho JIVF số tiền là 2.403.998 đồng vào trước hoặc đúng ngày cuối hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 02/01/2023.
Tuy nhiên, từ sau ngày 02/01/2023 đến nay, ông V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho JIVF và cố tình lẩn tránh. Vì vậy, JIVF yêu cầu giải quyết:
- Buộc ông Lê Tuấn V phải thanh toán toàn bộ khoản nợ cho JIVF tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 37.069.257 đồng (trong đó nợ gốc 22.000.000 đồng; lãi trong hạn 12.396.423 đồng; lãi quá hạn 2.528.834 đồng; phí 144.000 đồng);
- Buộc ông V tiếp tục trả tiền lãi, lãi quá hạn và phí kể từ sau ngày 30/9/2025 cho đến khi trả hết nợ cho JIVF theo mức lãi suất đã thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 910150003460674000 ngày 29/11/2022.
* Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Lê Tuấn V nhận nhưng ông V không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên toà.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Tuấn V phải thanh toán toàn bộ khoản nợ cho JIVF, tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 37.069.257 đồng (trong đó nợ gốc 22.000.000 đồng; lãi trong hạn 12.396.423 đồng; lãi quá hạn 2.528.834 đồng; phí 144.000 đồng) và buộc ông V tiếp tục trả cho JIVF tiền lãi, lãi quá hạn và phí kể từ sau ngày 30/9/2025 cho đến khi trả xong nợ cho JIVF theo mức lãi suất đã thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 910150003460674000 ngày 29/11/2022.
Đề nghị tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Theo Giấy phép thành lập và hoạt động C2 Tài chính trách nhiệm hữu hạn T2 JACCS số 80/GP-NHNN ngày 25/7/2018 thì Công ty T2 JACCS (viết tắt JIVF) được thực hiện các hoạt động của công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và của Ngân hàng N1. Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu giải quyết buộc ông Lê Tuấn V phải thanh toán toàn bộ khoản nợ cho JIVF theo hợp đồng tín dụng số 910150003460674000, tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 37.069.257 đồng. Ông Văn cư T1 tại thôn T, xã A, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc xã A, tỉnh Quảng Ngãi). Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi) thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Tuấn V được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông V theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Theo hợp đồng tín dụng số 910150003460674000 ngày 29/11/2022, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Lê Tuấn V có vay của JIVF số tiền 22.000.000 đồng; lãi suất 52.2 %/năm; thời hạn vay 12 tháng; mỗi tháng ông V phải thanh toán cho JIVF số tiền gốc và lãi là 2.403.998 đồng vào trước hoặc đúng ngày cuối hằng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 02/01/2023.
Tại Phần A của Hợp đồng tín dụng nêu trên, JIVF và ông Lê Tuấn V thỏa thuận lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử trong toàn bộ giao kết (ký), thực hiện và lưu trữ Hợp đồng tín dụng dưới dạng Hợp đồng điện tử. Đính kèm theo Hợp đồng tín dụng là 06 loại chứng từ có liên quan được liệt kê tại Hợp đồng và theo định dạng văn bản không thể sửa đổi nội dung khi đã gắn chữ ký điện tử. Trên cơ sở thỏa thuận, khi ông Lê Tuấn V sử dụng chữ ký điện tử để ký Hợp đồng tín dụng với JIVF được xem là đã ký vào Hợp đồng tín dụng ngày 29/11/2022. JIVF cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA của Công ty TNHH H để chứng minh ông Lê Tuấn V sử dụng chữ ký điện tử để ký tên trên Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Hợp đồng tín dụng số 910150003460674000 ngày 29/11/2022 giữa JIVF và ông Lê Tuấn V được giao kết (ký) dưới dạng Hợp đồng điện tử, phù hợp với quy định tại các điều 21, 33, 34, 35, 36 Luật giao dịch điện tử 2005, là hợp pháp.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng số 910150003460674000 ngày 29/11/2022, JIVF đã giải ngân tổng số tiền 22.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số xxxxxxxxxxxx mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C3 (V1) – Phòng G, theo chỉ định của ông Lê Tuấn V tại Điều 2 Hợp đồng tín dụng và Ủy nhiệm chi ngày 30/11/2022. Theo JIVF, sau khi nhận tiền vay, ông V đã không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng nêu trên, không thực hiện trả khoản nợ nào cho JIVF kể từ ngày 02/01/2023.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Lê Tuấn V nhận nhưng ông V không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên toà.
Do đó, JIVF khởi kiện yêu cầu buộc ông V phải thanh toán cho JIVF tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2025 là 37.069.257 đồng (trong đó nợ gốc 22.000.000 đồng; lãi trong hạn 12.396.423 đồng; lãi quá hạn 2.528.834 đồng; phí 144.000 đồng); buộc ông V tiếp tục trả cho JIVF tiền lãi, lãi quá hạn và phí từ sau ngày 30/9/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất đã thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 910150003460674000 ngày 29/11/2022 là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã cung cấp, phù hợp với quy định tại các điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên được chấp nhận.
Về án phí:
- Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Lê Tuấn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.853.462 đồng (một triệu, tám trăm năm mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi hai đồng).
- Hoàn trả cho JIVF số tiền 927.000 đồng (chín trăm hai mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp (do bà Nguyễn Thị D đại diện nộp) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001502 ngày 24/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Quảng Ngãi).
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; các điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2 JACCS.
- Buộc ông Lê Tuấn V phải trả cho Công ty T2 JACCS tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 37.069.257 đồng (ba mươi bảy triệu, không trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm năm mươi bảy đồng) (trong đó nợ gốc 22.000.000 đồng; lãi trong hạn 12.396.423 đồng; lãi quá hạn 2.528.834 đồng; phí 144.000 đồng).
- Ông Lê Tuấn V còn phải tiếp tục trả tiền lãi, lãi quá hạn, phí theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 910150003460674000 ngày 29/11/2022 kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Công ty T2 JACCS.
2. Về án phí:
- Buộc ông Lê Tuấn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.853.462 đồng (một triệu, tám trăm năm mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi hai đồng).
- Hoàn trả cho Công ty T2 JACCS số tiền 927.000 đồng (chín trăm hai mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp (do bà Nguyễn Thị D đại diện nộp) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001502 ngày 24/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Quảng Ngãi).
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND khu vực 1 - Quảng Ngãi; - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Dũng |