- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội: “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày: 17 - 4 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thị Sương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang
2. Ông Nguyễn Thanh Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Võ Công Văn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST - HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Quốc H; Tên gọi khác: H1. Sinh năm 1971 tại Nam Định. Nơi cư trú: Không xác định. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Không. Họ và tên cha: Không rõ. Họ và tên mẹ: Không rõ. Anh, chị, em ruột: Không rõ. Vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không.
Tiền án: có 04 tiền án, cụ thể:
+ Ngày 12/12/2000, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, về tội: “Cướp tài sản của Công dân” theo Bản án số 239/HSST.
+ Ngày 15/5/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 (T) năm tù, về tội: “Cướp tài sản” theo Bản án số 608/2006/HSST. Phạm Quốc H kháng cáo và tại Bản án số 1096/2006/HSPT ngày 26/7/2006 của Tòa Phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm và xử phạt 08 (T) năm tù.
+ Ngày 28/6/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 (T) năm tù, về tội: “Cướp tài sản” theo Bản án số 853/2006/HSST. Phạm Quốc H kháng cáo và tại Bản án số 1437/2006/HSPT ngày 25/9/2006 của Tòa Phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm và xử phạt 08 (T) năm tù.
+ Ngày 19/9/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 (tám) năm tù, về tội: “Cướp tài sản” theo Bản án số 1350/2006/HSST.
Tại Quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều Bản án số 07/2007/QĐ/TA-HS ngày 27/3/2007 của Tòa án nhân dân Tối Cao đã buộc Phạm Quốc H phải chấp hình phạt chung của ba bản án là 24 (Hai bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2005. Phạm Quốc H chấp hành án tại Trại giam X- Cục C Bộ C1, đến ngày 30/5/2022 thì chấp hành xong hình phạt (theo giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 842/GCN ngày 30/5/2022 của Trại giam X- Cục C Bộ C1).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2023 cho đến nay.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
1. Bà Trương Thị P, sinh năm 1975. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ D, ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.
2. Cháu Lưu Chí H2, sinh năm: 2013 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ D, ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Người giám hộ cho cháu Lưu Chí H2: Bà Trương Thị P, sinh năm 1975. Nơi cư trú: tổ D, ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
3. Bà Lưu Thị T1, sinh năm: 1974 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai
- Người làm chứng:
1. Lê Thị L, sinh năm: 1982. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ E, ấp X, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước.
2. Phan Thị Hồng H3, sinh năm: 1969 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quốc H, sinh năm 1971, không có nơi cư trú, sống lang thang và không có nghề nghiệp đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 10/2023, thông qua mạng xã hội Facebook và Z, H quen biết chị Trương Thị P, sinh năm 1975, cư trú tại tổ D, ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Sau nhiều lần nói chuyện qua mạng xã hội Facebook, Z, H biết chị P bị gãy chân nên H nói với chị P để H đến nhà chăm sóc chị P trong thời gian bị gãy chân thì chị P đồng ý. Ngày 15/10/2023, chị P gửi định vị địa chỉ qua mạng xã hội Zalo để H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Lead, biển số 54K1- 0148 đi từ khu vực ngã ba A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh đến nhà chị P tại tổ D, ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Khoảng 12 giờ ngày 15/10/2023, H đến nhà chị P và ăn uống cùng chị P, cháu Lưu Chí H2, sinh ngày 14/7/2013 (con trai chị P) và chị Lê Thị L (thường gọi là L1 - bạn của chị P) rồi ở tại nhà chị P đến sáng ngày 16/10/2023 thì H quay lại thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 18/10/2023, chị P gọi điện thoại cho H đến nhà chở chị P đi bó kiến vàng nên H điều khiển xe mô tô Lead biển số 54K1- 0148 đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến nhà của chị P. Do trước đó H đã nhìn thấy chị P đeo nhiều vàng trên người nên đã có ý định chiếm đoạt tài sản của chị P. Để thực hiện được ý định, trên đường đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến nhà chị P, khi đến khu vực thị xã B, tỉnh Bình Dương, H đã ghé vào tiệm thuốc tây ven đường, viện cớ lý do bị mất ngủ và nhờ nhân viên bán thuốc bán 01 liều thuốc ngủ khoảng 15.000 đồng (gồm 02 viên trắng nhỏ là thuốc ngủ và 02 viên thuốc bổ) và tiếp tục ghé vào tiệm tạp hóa bên đường mua 01 lốc sữa nhãn hiệu Yomost dâu nhằm mục đích pha với thuốc ngủ lừa cho chị P uống để chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 12 giờ ngày 18/10/2023, H đến nhà chị P và chở chị P đi bó kiến vào chân bị gãy và ăn uống cùng chị P và chị L rồi ngủ tại nhà chị P. Đến trưa ngày 19/10/2023, H tiếp tục ăn uống cùng chị P, chị L và cháu H2 và đến khoảng 19 giờ ngày 19/10/2023, khi thấy chị P nằm ở giường trong phòng của cháu H2, còn cháu H2 chơi một mình ở trước cửa nhà thì H đi đến kệ để ly trong gian bếp tại nhà chị P lấy 02 ly dạng nhựa màu trắng, miệng tròn, không có quai, cao khoảng 08 cm để lên bàn cạnh máy lọc nước (dưới kệ để ly) rồi lấy 02 hộp sữa Yomost dâu mua trước đó đổ vào hai ly nước, tiếp đến H lấy 02 viên thuốc ngủ màu trắng pha vào 01 ly sữa rồi mang vào phòng ngủ cho chị P uống. Sau khi uống được khoảng 2/3 ly sữa có pha thuốc ngủ thì chị P nói chua quá không uống nữa, thấy vậy cháu H2 đi tới lấy ly sữa từ tay chị P và uống hết sữa còn lại trong ly rồi mang ly ra để tại chỗ đựng ly ở ngay bồn rửa, còn H lấy ly sữa không có thuốc ngủ uống hết và đi ra ngoài võng bên ngoài nhà chị P nằm ngủ. Đến khoảng 21 giờ ngày 19/10/2023, khi thấy chị P và cháu H2 ngấm thuốc ngủ, H đi ra phía gian bếp lấy 01 kéo sắt màu xám đen đi vào chỗ chị P đang bị mê ngủ cắt hết 01 bộ vòng vàng ximen (gồm 21 cái vòng) trên tay trái, tháo 03 cái nhẫn vàng trên các ngón tay và 01 lắc vàng trên cổ chân phải chị P, lấy 01 điện thoại Oppo Reno 10 màu xanh của chị P để ở đầu giường nơi chị P ngủ và 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung trên bàn học của cháu Lưu Chí H2. Sau đó, H bỏ toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt được vào trong 01 túi nylon màu đen rồi treo lên móc xe mô tô của H và bỏ trốn đến địa bàn thành phố B và huyện X, tỉnh Đồng Nai. Đến sáng 20/10/2023, chị P tỉnh dậy thấy bị mất tài sản nhưng do có quen biết với H và sợ mọi người biết chuyện nên chị P không trình báo sự việc đến cơ quan Công an.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 54/KL-HĐĐGTTTHS ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện H, kết luận:
- Giá trị của tài sản 01 (một) bộ vòng ximen gồm 21 (hai mươi mốt) cái vòng bị cắt đứt là kim loại vàng, loại vàng 610, có tổng trọng lượng 1,975 lượng (19,75 chỉ) (giá vàng nữ trang 18K không bao gồm tiền công) được định giá là 70.112.500 đồng.
- Giá trị của tài sản 01 (một) lắc bi món là kim loại vàng, loại vàng 610 (18K), có tổng trọng lượng 1,76 chỉ (giá vàng nữ trang 18k không bao gồm tiền công) được định giá là 6.248.000 đồng.
- Giá trị của tài sản 01 (một) nhẫn lưới kết tấm là kim loại vàng, loại vàng 610 (18K), có tổng trọng lượng 1,32 chỉ. Trừ hột có trọng lượng là 0,07 chỉ, còn lại trọng lượng vàng của nhẫn là 1,25 chỉ (giá vàng nữ trang 18k không bao gồm tiền công) được định giá là: 4.437.500 đồng.
- Giá trị của tài sản 01 (một) nhẫn kết tấm là kim loại vàng, loại vàng 610 (18K), có tổng trọng lượng 1,83 chỉ. Trừ hột có trọng lượng là 0,07 chỉ, còn lại trọng lượng vàng của nhẫn là 1,67 chỉ (giá vàng nữ trang 18k không bao gồm tiền công) được định giá là: 5.928.500 đồng.
- Giá trị của tài sản 01 (một) nhẫn kim tiền kết tấm là kim loại vàng, loại vàng 610 (18K), có tổng trọng lượng 0,78 chỉ. Trừ hột có trọng lượng là 0,07 chỉ, còn lại trọng lượng vàng của nhẫn là 0,71 chỉ (giá vàng nữ trang 18k không bao gồm tiền công) được định giá là: 2.520.500 đồng.
- Giá trị của tài sản (điện thoại đã qua sử dụng, được mua mới vào tháng 8/2023) được định giá tại thời điểm tháng 10/2023 là: 7.000.000 đồng.
- Giá trị của tài sản (máy tính bảng đã qua sử dụng, mua cũ năm 2021) được định giá tại thời điểm tháng 10/2023 là: 500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 96.747.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào ngày 23/10/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ, biển số 54K1- 0148 đi từ thành phố Hồ Chí Minh về hướng tỉnh Bình Thuận. Khi đi ngang qua quán “Cà phê võng 789” thuộc ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai do chị Lưu Thị T1 làm chủ thì H ghé vào quán uống nước và nằm nghỉ. Tại đây, H nói chuyện và làm quen với chị T1 rồi đi về thành phố L nghỉ trọ. Đến khoảng 11 giờ ngày 24/10/2023, H tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda Lead, màu đỏ, biển số 54K1- 0148 đến quán “Cà phê võng 789” để gặp chị T1. Sau khi ngồi uống nước, nói chuyện với nhau thì chị T1 có rủ H ăn nhậu thì H đồng ý và đưa cho chị T1 số tiền 500.000 đồng để chị T1 đi mua đồ ăn. Sau đó, H cùng với chị T1, chị Phan Thị Hồng H3 và một người bạn của chị T1 cùng nhau ăn nhậu tại “Cà phê võng 789”. Đến khoảng hơn 14 giờ ngày 24/10/2023, thì dừng ăn nhậu, H ra võng phía trước quán để nằm ngủ. Trong thời gian ăn nhậu và nói chuyện với chị T1 thì H để ý thấy trên tay trái của chị T1 đeo nhiều vòng kim loại màu vàng, trên cổ cũng đeo 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị T1. H nằm ngủ trên võng đến gần 16 giờ cùng ngày thì tỉnh dậy và rủ chị T1 tiếp tục ăn nhậu thì chị T1 đồng ý. Lúc này, H điều khiển xe mô tô biển số 54K1- 0148 đi đến địa bàn thành phố L để mua thức ăn, đồng thời đến một tiệm thuốc tây (không rõ tên, địa chỉ cụ thể) thuộc thành phố L mua 02 viên thuốc ngủ dạng viên nén rồi quay về “Cà phê võng 789” ăn nhậu cùng với chị T1, chị H3, một người bạn của chị T1 và cùng một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Trong lúc ăn nhậu, lợi dụng lúc không có ai để ý, H đã dùng tay bóp nát 02 viên thuốc ngủ rồi cho vào ly rượu của chị T1 và cho chị T1 uống. Cả 05 người ngồi ăn nhậu đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày thì dừng. Chị H3 đi vào bên trong nhà (bên trong quán 789) để ngủ, còn chị T1 và H thì nằm ngoài võng nói chuyện với nhau. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì chị T1 nói buồn ngủ và đi vào bên trong nhà ngủ, còn H thì vẫn nằm ở ngoài võng. Sau khi thấy chị T1 đã ngủ say, H đã vào bên trong nhà đi đến khu vực bếp lấy 01 cái kéo bằng kim loại rồi đi vào phòng nơi chị T1 đang ngủ và dùng kéo cắt đứt 14 vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng trên tay trái của chị T1 và tháo sợi dây chuyền có mặt đeo hình tròn bằng kim loại màu vàng trên cổ của chị T1 rồi để vào trong túi quần trên người. H tiếp tục lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám của chị T1 đang để trên nóc tủ gần giường chị T1 đang nằm ngủ rồi ra xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ, biển số 54K1- 0148 của H đi ra đến cổng để tẩu thoát. Lúc này, chị T1 tỉnh dậy, phát hiện bị mất tài sản nên gọi chị H3 dậy và cùng đuổi theo nên H đã để lại xe mô tô lại và bỏ chạy được khoảng 05 đến 10 phút thì H quay lại quán với mục đích trả lại tài sản đã chiếm đoạt được cho chị T1 và xin lại xe mô tô thì chị T1 đồng ý nhận lại tài sản của mình nhưng vì vòng tay đã bị cắt đứt nên chị T1 yêu cầu H phải bồi thường thì H đồng ý. Chị T1 hẹn H sáng ngày hôm sau (25/10/2023) đến để thương lượng bồi thường. Đến sáng ngày 25/10/2023, chị T1 có dấu hiệu chóng mặt, buồn nôn nên được chị H3 đưa đến Bệnh viện Đ để điều trị. Khoảng 10 giờ ngày 25/10/2023, H quay lại quán để thương lượng bồi thường và nhận lại xe mô tô thì bị chị H3 giữ lại và trình báo Công an xã X đến xử lý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 138/KL-HĐĐG ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X, kết luận:
- Giá trị còn lại của 14 (mười bốn) vòng đeo tay bằng vàng 18K, trọng lượng 14,9 chỉ (1,49 lượng) là: 62.846.710 đồng.
- Giá trị còn lại của 01 (một) dây chuyền có mặt đeo hình tròn bằng vàng 18K, có trọng lượng 3,28 chỉ là: 13.834.712 đồng.
- Giá trị còn lại của 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám, đã qua sử dụng là: 12.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 89.181.422 đồng (làm tròn: 89.181.000 đồng).
* Vật chứng vụ án đã thu giữ và xử lý:
- 01 (một) chiếc kéo có đặc điểm dài 25 cm được làm bằng kim loại sắt, lưỡi kéo đã bị han rỉ, kéo có hai đầu nhọn, tay cầm kéo được bọc lớp cao su màu đen và một bên tay cầm đã bị gãy rời ra ngoài; 02 (hai) vỏ hộp sữa đã qua sử dụng nhãn hiệu “Yomost”.
- 01 (một) cây kéo bằng kim loại sắt đầu nhọn, cán bằng sắt (Hiện đang tạm giữ.
- 21 (hai mươi mốt) vòng Ximen bằng kim loại vàng bi cắt đứt; 01 (một) lắc bi món kim loại vàng; 01 (một) nhẫn lưới kết tấm kim loại vàng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có 03 ô vuông nhỏ, bên trên có gắn các hạt màu trắng; 01 (một) nhẫn kết tấm kim loại vàng; 01 (một) nhẫn kim tiền kết tấm kim loại vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 10 màu xanh. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị hại Trương Thị P nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trao trả lại cho chị Trương Thị P theo quy định.
- 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu hiệu S1 Galaxy Tab A màu đen. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị hại Lưu Chí H2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trao trả lại cho chị Trương Thị P mẹ ruột của cháu H2 và cũng là người đại diện hợp pháp của Lưu Chí H2 theo quy định.
- 14 (mười bốn) vòng Ximen bằng kim loại vàng bị cắt đứt; 01 (một) sợi dây chuyền đeo cổ bằng kim loại vàng có mặt đeo hình tròn bằng kim loại màu vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám, ốp lưng dẻo trong. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị hại Lưu Thị T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho chị Lưu Thị T1 theo quy định.
- 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, có gắn đá màu xanh; 01 (một) sợi dây kim loại màu vàng (dây chuyền chữ công) kích thước 47,5cm; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A73; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 màu xám; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (loại có bàn phím) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu hồng (loại có bàn phím). Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị can Phạm Quốc H và không liên quan đến hành vi phạm tội nên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho Phạm Quốc H theo quy định.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ biển số 54K1 -0148. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên do ông Nguyễn Đức T2, sinh năm 1962, cư trú tại phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu và ông T2 trình bày xe mô tô nêu trên của ông T2 bị kẻ gian trộm cắp vào năm 2005 tại quận F, thành phố Hồ Chí Minh nhưng ông T2 không trình báo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận F, thành phố Hồ Chí Minh để tiếp nhận xử lý theo thẩm quyền.
* Trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Trương Thị P, cháu Lưu Chí H2 (do chị P đại diện) và chị Lưu Thị T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Quá trình điều tra, Phạm Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSXL ngày 12 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Phạm Quốc Huy về tội: “Cướp tài sản”, theo điểm d, đ, e và h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc kéo có đặc điểm dài 25,0 cm được làm bằng kim loại sắt, lưỡi kéo đã bị han rỉ, kéo có hai đầu nhọn, tay cầm kéo được bọc lớp cao su màu đen và một bên tay cầm đã bị gãy rời ra ngoài; 01 (một) cây kéo bằng kim loại sắt đầu nhọn, cán bằng sắt và 02 (hai) vỏ hộp sữa đã qua sử dụng nhãn hiệu “Yomost”.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d, đ, e và h khoản 2 Điều 168; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 năm 06 tháng tù đến 13 năm tù và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thống nhất với Cáo trạng và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mô tả.
Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm trở về xã hội và tìm kiếm người thân, nguồn gốc quê quán của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra huyện X, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc thực hiện đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào ngày 19/10/2023, tại nhà của chị Trương Thị P thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước; Phạm Quốc H đã có hành vi dùng thuốc ngủ pha vào ly sữa cho chị Trương Thị P và cháu Lưu Chí H2 uống và chiếm đoạt tài sản gồm: 21 (hai mươi mốt) vòng Ximen bằng kim loại vàng; 01 (một) lắc bi món kim loại vàng; 01 (một) nhẫn lưới kết tấm kim loại vàng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có 03 ô vuông nhỏ, bên trên có gắn các hạt màu trắng; 01 (một) nhẫn kết tấm kim loại vàng; 01 (một) nhẫn kim tiền kết tấm kim loại vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 10 màu xanh và 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu hiệu S1 Galaxy Tab A màu đen với tổng giá trị tài sản là 96.747.000 đồng. Đến ngày 24/10/2023, tại quán “Cà phê võng 789” thuộc ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; với phương thức và thủ đoạn nêu trên Phạm Quốc H tiếp tục có hành vi dùng thuốc ngủ pha vào ly rượu và cho chị Lưu Thị T1 uống và chiếm đoạt tài sản gồm: 14 (mười bốn) vòng Ximen bằng kim loại vàng; 01 (một) sợi dây chuyền đeo cổ bằng kim loại vàng có mặt đeo hình tròn bằng kim loại màu vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xám, ốp lưng dẻo trong với tổng giá trị tài sản là 89.181.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 185.928.000 đồng (một trăm tám mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi tám ngàn đồng).
Hành vi sử dụng thuốc ngủ của bị cáo khi chưa được bác sĩ chỉ định liều lượng cụ thể đối với các bị hại có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của họ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị Trương Thị P có giá trị là 96.247.000 đồng; chiếm đoạt của cháu Lưu Chí H2 có giá trị là 500.000đồng; Chiếm đoạt của chị Lưu Thị T1 có giá trị là 89.181.000 đồng; Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 185.928.000 đồng. Mặt khác, bị cáo đang có 04 tiền án về tội “Cướp tài sản của công dân”, “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đây là các tình tiết định khung quy định tại điểm d, đ, e và điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phạm Quốc H đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, đ, e và điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo ngại trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ nhận thức và lường trước được hậu quả do mình gây ra; có đủ sức khỏe và khả năng để kiếm tiền nuôi bản thân, giúp ích cho xã hội; nhưng vì bản tính lười lao động, tham lam, muốn hưởng thụ trên mồ hôi, công sức, thành quả lao động của người khác nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội “Cướp tài sản”, nhưng vẫn không lấy đó làm bài học, không chịu làm ăn lương thiện mà vẫn tiếp tục phạm tội, cho thấy sự ngang nhiên, coi thường pháp luật nên cần xử lý thật nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bản thân bị cáo có hoàn cảnh gia đình éo le (không rõ cha mẹ, người thân; không có nhà cửa, nơi cư trú ổn định), trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
* Vật chứng vụ án đã thu giữ và xử lý:
- 01 (một) chiếc kéo có đặc điểm dài 25 cm được làm bằng kim loại sắt, lưỡi kéo đã bị han rỉ, kéo có hai đầu nhọn, tay cầm kéo được bọc lớp cao su màu đen và một bên tay cầm đã bị gãy rời ra ngoài; 02 (hai) vỏ hộp sữa đã qua sử dụng nhãn hiệu “Yomost” và 01 (một) cây kéo bằng kim loại sắt đầu nhọn, cán bằng sắt là phương tiện, công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 21 (hai mươi mốt) vòng Ximen bằng kim loại vàng bi cắt đứt; 01 (một) lắc bi món kim loại vàng; 01 (một) nhẫn lưới kết tấm kim loại vàng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có 03 ô vuông nhỏ, bên trên có gắn các hạt màu trắng; 01 (một) nhẫn kết tấm kim loại vàng; 01 (một) nhẫn kim tiền kết tấm kim loại vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 10 màu xanh. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị hại chị Trương Thị P nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chị Trương Thị P là phù hợp quy định pháp luật.
- 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu hiệu S1 Galaxy Tab A màu đen. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của cháu Lưu Chí H2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trao trả lại cho cháu Lưu Chí H2 (do chị Trương Thị P mẹ là người đại diện hợp pháp nhận) là phù hợp quy định pháp luật.
- 14 (mười bốn) vòng Ximen bằng kim loại vàng bị cắt đứt; 01 (một) sợi dây chuyền đeo cổ bằng kim loại vàng có mặt đeo hình tròn bằng kim loại màu vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám, ốp lưng dẻo trong. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của chị Lưu Thị T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trả lại cho chị T1 là phù hợp quy định pháp luật.
- 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, có gắn đá màu xanh; 01 (một) sợi dây kim loại màu vàng (dây chuyền chữ công) kích thước 47,5cm; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A73; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 màu xám; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (loại có bàn phím) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu hồng (loại có bàn phím). Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc H và không liên quan đến hành vi phạm tội nên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trả lại cho Phạm Quốc H là phù hợp quy định pháp luật.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ biển số 54K1 -0148. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên do ông Nguyễn Đức T2, sinh năm 1962, cư trú tại phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu và ông T2 trình bày xe mô tô nêu trên của ông T2 bị kẻ gian trộm cắp vào năm 2005 tại quận F, thành phố Hồ Chí Minh nhưng ông T2 không trình báo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận F, thành phố Hồ Chí Minh để tiếp nhận xử lý theo thẩm quyền là phù hợp quy định pháp luật.
* Trách nhiệm dân sự:
Các bị hại chị Trương Thị P, cháu Lưu Chí H2 (do chị P là người đại diện hợp pháp) và chị Lưu Thị T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội: “Cướp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm d, đ, e và h khoản 2 Điều 168; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc H: 12 (Mười hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2023.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc kéo có đặc điểm dài 25 cm được làm bằng kim loại sắt, lưỡi kéo đã bị han rỉ, kéo có hai đầu nhọn, tay cầm kéo được bọc lớp cao su màu đen và một bên tay cầm đã bị gãy rời ra ngoài; 02 (hai) vỏ hộp sữa đã qua sử dụng nhãn hiệu “Yomost” và 01 (một) cây kéo bằng kim loại sắt đầu nhọn, cán bằng sắt.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Phạm Quốc H phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Đồng Nai; - VKSND Tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp Tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện Xuân Lộc; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu AV, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Sương |