vanban.org

Bản án 80/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc L3 phạm tội Trộm cắp tài sản .

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc L3 09 chín năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc L3 phạm tội Trộm cắp tài sản .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HSST
Ngày : 04/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Thảo

2. Bà Nguyễn Thị Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phi Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ HOÀNG NGỌC L3, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1996; tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nơi đăng ký HKTT: 665 P, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 618/72/14 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Quản lý cửa hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thanh H, sinh năm 1974 và bà Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1973; v con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm gi , tạm giam: 31/7/2022 Có mặt

2/ LÊ TẤN K, sinh ngày 03 tháng 9 năm 1999; tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nơi đăng ký HKTT: 18 đường E, khu phố B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 5/6 L, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn L1, sinh năm 1969 và bà Tô Thị Bích L2, sinh năm 1970; v , con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm gi , tạm giam: 31/7/2022 Có mặt

- Bị hại: Công ty CP G

Trụ sở: B Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Minh T vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian làm quản lý tại Cửa hàng MCDonald’s Tòa nhà T T, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Hoàng Ngọc L3 lấy các chìa khóa của các phòng tại cửa hàng đến th làm thêm 05 chìa khoá khác (L3 không nhớ địa điểm nơi mục đích chờ sơ hở sẽ dùng chìa khóa đột nhập vào cửa hàng để lấy trộm tài sản. Ngày 03/7/2022, L3 nhắn tin qua M rủ Lê Tấn K cùng trộm cắp tài sản tại Cửa hàng MCDonald’s, K đồng ý. Ngày 25/7/2022, cả hai bàn bạc cách thức để trộm cắp tài sản tại cửa hàng, L3 hướng dẫn đường đi, cách thức mở khóa cửa, nơi cất gi tài sản của Công ty để K đột nhập vào bên trong cửa hàng lấy trộm.

Đến khoảng 22 giờ 00 phút ngày 28/7/2022, L3 đưa cho K 01 balô bên trong có 01 nón kết, quần áo, áo khoác, khẩu trang, găng tay, 05 chìa khóa mà L3 đã đặt làm và số tiền 500.000 đồng để K đi xe ôm đến cửa hàng, thống nhất sau khi trộm đư c tài sản thì mang tài sản trộm đư c về gần nơi ở của L3 để cất giấu.

Rạng sáng 29/7/2022, K đi vào nhà vệ sinh công cộng gần cửa hàng MC Donald’s thay quần áo, đeo găng tay. Chờ cửa hàng đóng cửa, K lấy chìa khoá L3 đưa mở khoá các cửa đột nhập vào bên trong, đi đến quầy bếp lấy các miếng sticker dán vào mắt của camera gắn trước cửa hướng vào phòng thu ngân, rồi dùng chìa khoá mở cửa vào trong phòng. K tiếp tục dùng miếng sticker dán camera trong phòng rồi dùng chìa khoá mở két sắt lấy trộm các xấp tiền ở trong két bỏ vào balô. Sau đó, K khoá lại két sắt, dùng tay rút dây nguồn của đầu thu camera và dùng kìm cắt 02 s i dây của máy tính trong phòng này. K tháo các miếng sticker đã dán vào camera trước đó và tẩu thoát theo lối cửa sau của nhà hàng. Sau khi trộm cắp tài sản, K đi đến hẻm F Q, Phường A, quận G giao cho L3 balô tiền vừa trộm cắp đư c. L3 mở balô ra kiểm tra rồi đem về nhà tại 6 Q, Phường A, quận G cất gi .

Trưa ngày 29/7/2022, trong lúc làm việc tại cửa hàng M1 chi nhánh Â, L3 nghe thông tin các nhân viên cửa hàng MC Donald’s Toà nhà TCP Sân bay T1 phát hiện bị mất tiền và đã trình báo cơ quan Công an. S bị phát hiện, L3 điện thoại hẹn đưa cho K số tiền 5.000.000 đồng từ số tiền lấy trộm tại bên ngoài cửa hàng MC Donald’s chi nhánh  để K tiêu xài cá nhân. Số tiền còn lại L3 cất giấu vào túi nilon và đưa cho K cất gi . L3 nói với K vệ sinh sạch số tiền trên nhằm xóa dấu vân tay, K mang tiền về nhà ngâm tiền vào nước xà bông rửa. Sau đó, K cùng bạn tên V chưa rõ lai lịch đi Vũng Tàu chơi, mua 01 điện thoại di động và phụ kiện kèm theo với số tiến 13.940.000 đồng. Đến tối ngày 30/7/2022, L3 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T bắt gi . Biết việc L3 bị bắt, sáng ngày 31/7/2022, K đến trụ sở Công an Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất quận T đầu thú và giao nộp số tiền còn lại là 230.740.000 đồng. Công an Cảng hàng không chuyển hồ sơ cùng K và tang cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T giải quyết.

Quá trình điều tra, Hoàng Ngọc L3 và Lê Tấn K đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp số tiền 269.157.000 đồng như đã nêu trên, thu hồi đư c 230.740.000 đồng, tiêu xài cá nhân là hết 38.417.000 đồng, phù h p các chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

- Thu gi 01 điện thoại di động hiệu S S21 Ultra 5G của L3 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus của K, cả hai sử dụng liên lạc, tin nhắn tin bàn bạc, trao đổi nội dung liên quan đến vụ án, nhập kho vật chứng.

- Thu gi số tiền 230.740.000 đồng do K giao nộp, đã trả cho Công ty CP G.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen dung lư ng 64GB ĐIMEL: 350160483133664 và 01 đầu sạc A, K dùng tiền trộm cắp mua, nhập kho vật chứng.

Trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Minh T là đại diện uỷ quyền của Công ty CP G nhận lại số tiền 269.157.000 đồng trong đó có 230.740.000 đồng do K giao nộp và 38.417.000 đồng do L3 và K khắc phục , không có yêu cầu bồi thường khác.

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS-TB ngày 04 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Hoàng Ngọc L3 và Lê Tấn K về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội giống với lời khai tại cơ quan điều tra.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn gi nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Hoàng Ngọc L3 và Lê Tấn K về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc L3 mức án từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm 6 tháng tù và bị cáo Lê Tấn K từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Hoàng Ngọc L3 và Lê Tấn K, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đư c phân công điều tra giải quyết vụ án, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đư c phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ quá trình điều tra, truy tố, diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đều h p pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của các bị cáo, lời khai của người bị hại, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan cùng tang vật và các tài liệu chứng cứ khác đư c trong hồ sơ vụ án đã xác định: Do có sự chuẩn bị, bàn bạc từ trước nên rạng sáng 29/7/2022, Lê Tấn K lấy các chìa khoá do Hoàng Ngọc L3 đưa mở khoá các cửa đột nhập vào bên trong cửa hàng MCDonald’s thuộc Công ty CP G tại Tòa nhà T T, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh lén lút lấy cắp số tiền 269.157.000 đồng.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không nh ng trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u, quản lý tài sản h p pháp của công dân đư c pháp luật và Nhà nước bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân các bị cáo nhận thức đư c hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý nên Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận các bị cáo Hoàng Ngọc L3 và Lê Tấn K đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt trị giá 269.157.000 đồng thuộc trường h p định khung hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong vụ án này, các bị cáo có sự bàn bạc, chuẩn bị từ trước. Trong đó bị cáo L3 đóng vai trò chủ mưu chuẩn bị công cụ phạm tội, hướng dẫn đường đi, cách thức mở cửa cho bị cáo K. Bị cáo K đóng vai trò người thực hành đột nhập vào bên trong cửa hàng để lấy trộm tài sản. Các bị cáo dùng các miếng sticker dán vào các mắt của camera, rút dây nguồn của đầu thu camera, cắt dây của máy tính. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp thành công, các bị cáo vệ sinh sạch số tiền trên nhằm xóa dấu vân tay chứng tỏ các bị cáo quyết tâm thực hiện và che dấu hành vi phạm tội đến cùng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Các bị cáo Hoàng Ngọc L3 và Lê Tấn K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự nguyện sửa ch a khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Ngoài ra, đối với bị cáo K nhận thức đư c hành vi phạm tội của mình nên đã tự thú nên đư c hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về vật chứng:

- Đối với số tiền 230.740.000 đồng do K giao nộp. Xét Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Công ty CP G là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu S S21 Ultra 5G của L3, imel 1: 354505623801107, imel 2: 359131203801105 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus của K, imel: 359471082245325, cả hai sử dụng liên lạc, tin nhắn tin bàn bạc, trao đổi nội dung liên quan đến vụ án. Xét đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen dung lư ng 64GB ĐIMEL: 350160483133664 và 01 đầu sạc A, K dùng tiền trộm cắp mua. Xét đây là tài sản do phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 106; Điều 268, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q;

1. Căn cứ Điều 38; Điều 47; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc L3 phạm tội Trộm cắp tài sản .

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc L3 09 chín năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

2. Căn cứ Điều 38; Điều 47; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lê Tấn K phạm tội Trộm cắp tài sản .

Xử phạt: Bị cáo Lê Tấn K 08 (tám năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

3. Về vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S S21 Ultra 5G, imel 1: 354505623801107, imel 2: 359131203801105; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, imel: 359471082245325; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen dung lư ng 64GB ĐIMEL: 350160483133664 và 01 đầu sạc Anker tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/5/2023 gi a Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình

4. Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 hai trăm ngàn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo đư c quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án h p lệ.

Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đư c sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đư c sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đư c sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ