- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Cao Văn K phạm Tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HSST Ngày: 19/7/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hoà;
Bà Đỗ Thị Ngoãn
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 78/2023/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2023/ QĐXXST – HS ngày 08 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Cao Văn K, (tên gọi khác: Ngọc). sinh năm 1968, tại tỉnh Đăk Lăk.
Chứng minh nhân dân số: 220740xxx; cấp ngày 08/6/1986
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Thôn x, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Đ và bà Nguyễn Thị N; tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày xx/3/2023 cho đến nay, (có mặt).
- Bị hại: Lê Thị Phương O, sinh năm 1974, (vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/3/2023, Cao Văn K điều khiển xe môtô biển số: 93H8-99XX (có biển số thật là 61T1-96XX, mượn của ông Lê Văn H) đi đến xưởng thu mua mủ cao su của bà Lê Thị Phương O thuộc KP Đ, TT. Đ, huyện Bù Đăng dùng dao cắt được 62 kg mủ cao su đông mang đi bán cho một người thu mua phế liệu (không rõ nhân thân, lý lịch) được 372.000 đồng tiêu xài cá nhân. Sáng ngày 07/3/2023, K tiếp tục điều khiển xe môtô đến xưởng mủ của bà O dùng dao cắt được 224 kg mủ cao su đông chuẩn bị vận chuyển ra xe thì bị Công an thị trấn Đức Phong kiểm tra phát hiện bắt quả tang người cùng tang vật giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng điều tra, xử lý theo luật định.
Tại Kết luận định giá tài sản số 08 ngày 15/3/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bù Đăng, kết luận: 286 kg mủ cao su đông tại thời điểm xảy ra tội phạm có giá trị là 4.290.000 đồng.
- Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng đã xử lý:
+ 62 kg mủ cao su đông không thu hồi được;
+ 224kg mủ cao su đông trả cho bà Lê Thị Phương O.
+ 02 con dao là công cụ sử dụng vào việc phạm tội chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.
+ Xe môtô biển số giả 93H8-99XX có biển số thật là 61T1-96XX trả lại cho ông Lê Văn H.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 82/CT –VKS.BĐ ngày 14/6/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Cao Văn K về Tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Văn K phạm Tội trộm cắp tài sản.
Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Văn K từ 06 đến 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nơi cư trú, ổn định, không có thu nhập nên không đề nghị áp dụng.
Bị cáo Cao Văn K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định, như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong các ngày 04/3/2023 và ngày 07/3/2023, bị cáo Cao Văn K đã trộm cắp tổng cộng 286 kg mủ cao su đông có trị giá 4.290.000 đồng của bà Lê Thị Phương O tại KP Đ, TT Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang người cùng tang vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Cao Văn K đã phạm vào Tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài. Bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ 62 kg mủ cao su đông không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ 224 kg mủ cao su đông trả cho bà Lê Thị Phương O. Bà O đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cần tịch thu tiêu hủy 02 con dao là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và 01 biển số giả 93H8-99XX.
+ Xe môtô biển số: 93H8-99XX có biển số thật là 61T1-96XX trả lại cho ông Lê Văn H là chủ sở hữu hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì thên và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối với người thu mua phế liệu (không rõ nhân thân, lý lịch) không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý.
- Đối với Lê Văn H cho bị cáo K mượn xe làm phương tiện đi lại không biết K sử dụng vào việc phạm tội, không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý.
- Người bị hại Lê Thị Phương O khai ngoài 286 kg mủ cao su bị mất thì bà còn bị mất một số tài sản khác gồm: 01 bàn gỗ, 04 camera, 04 bóng đèn, 01 chân bồn nước bằng sắt và khoảng 06 tấn mủ cao su đông nhưng không xác định được ai lấy, bị cáo không thừa nhận, không có tài liệu, chứng cứ khác. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Cao Văn K phạm Tội trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Cao Văn K 09 tháng tù (chín tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2023.
[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại dài 35cm; 01 con dao bằng kim loại dài 42cm
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010xxx ngày 13/6/2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng).
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 biển kiểm soát số 93H8-99XX (biển số giả)
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010053 ngày 21/7/2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng)
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Cao Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước. - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước; - Công an tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - CCTHADS huyện Bù Đăng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |