- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngân Văn Q - Vận chuyển trái phép chất ma tuý - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày: 26 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Hoa
Ông Hồ Bá Võ
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Hoàng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngân Văn Q; sinh ngày 11 tháng 3 năm 1985 tại: huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; giới tính: nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngân Văn D và bà Ngân Thị V; có vợ Vi Thị M và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2023. Có mặt.
- Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Thị T, Công ty luật VINHLAW, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 27/3/2023, Ngân Văn Q đi từ nhà lên rừng thuộc xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An để nhặt củi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Q gặp một người đàn ông (khoảng 38 tuổi, không rõ lai lịch). Người đàn ông thuê Q vận chuyển ma tuý xuống thành phố Vinh với tiền công 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Sau khi Q đồng ý, người đàn ông đưa cho Q một gói ni lông màu đen bên trong chứa chất dẻo màu nâu (nhựa thuốc phiện) và nói Q đúng 12 giờ trưa ngày 29/3/2023 có mặt trước cổng chính chợ Vinh, thành phố Vinh thì sẽ có người đến gặp Q để lấy. Tiền công người nhận ma tuý sẽ trả cho Q. Người này dặn thêm khi đi xe khách thì bắt hai xe khác nhau để tránh theo dõi. Sau khi nhận túi ni lông chứa ma tuý từ người đàn ông, Q đem về và cất giấu tại khu vực phía sau nhà.
Khoảng 05 giờ ngày 29/3/2023, Ngân Văn Q ra khu vực phía sau nhà lấy ma tuý cho vào ba lô rồi đón xe khách đi thành phố Vinh. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Q xuống xe khách đi bộ trên đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận xóm Bắc Thịnh Mỹ, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An để đón xe khách khác đi vào thành phố Vinh thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 1371/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 09/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An kết luận: "03 mẫu chất dẻo màu nâu (ký thiệu M1, M2, M3) thu giữ của Ngân Văn Q gửi tới giám định đều là ma tuý (nhựa thuốc phiện). Số chất dẻo màu nâu (03 gói) thu giữ của Ngân Văn Q có tổng khối lượng là 2432,06g (hai nghìn bốn trăm ba mươi hai phẩy không sáu gam).
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An thu giữ của Ngân Văn Q: 2432,06 gam nhựa thuốc phiện đã lấy mẫu giám định 339,44 gam, còn lại 2092,62 gam; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen; 01 ba lô màu đen; 01 áo mưa màu đen. Vật chứng hiện được bảo quản tại kho vật chứng Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An.
Bản cáo trạng số 92/CT-VKS-P1 ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Ngân Văn Q về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngân Văn Q từ 15 đến 16 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ; 01 ba lô, 01 áo mưa là vật không có giá trị đề nghị tịch thu tiêu huỷ; điện thoại di động thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm đề nghị trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
Người bào chữa cho bị cáo Ngân Văn Q không tranh luận về tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo có nhân thân tốt, người dân tộc sống ở vùng cao, trình độ văn hoá thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo.
Bị cáo Ngân Văn Q đồng ý với phần bào chữa của người bào chữa về tội danh, hình phạt và không tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Ngân Văn Q thừa nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Bản kết luận giám định chất ma túy, phù hợp với lời khai người chứng kiến. Nên có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 27/3/2023, Ngân Văn Q được một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) thuê vận chuyển đến thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An một gói ma túy (nhựa thuốc phiện) với tiền công là 10.000.000 đồng. Đến khoảng 9 giờ 30 ngày 29/3/2023 Ngân Văn Q lấy gói ma túy (nhựa thuốc phiện) khối lượng 2432,06 gam đi xe khách từ xã C, huyện Q đến thành phố Vinh. Khi đến đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận xóm Bắc Thịnh Mỹ, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu thì bị Công an tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy, Ngân Văn Q đã có hành vi vận chuyển trái phép 2.432,06 gam ma túy (nhựa thuốc phiện) nhằm mục đích thu lợi bất chính, hành vi đó đã phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Ngân Văn Q về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi, tính chất vụ án: Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là nguồn gốc sâu xa làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi mà vẫn thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cách ly bị cáo khỏi xã hội thời gian đủ dài nhằm răn đe bị cáo, cũng như phòng ngừa loại tội phạm này trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Ngân Văn Q có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định, không có tài sản, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về các nội dung khác của vụ án:
Đối với người đàn ông thuê Ngân Văn Q vận chuyển ma tuý và người nhận ma tuý ở thành phố Vinh theo Q khai, do Q không biết lai lịch của hai người này, không có số điện thoại liên lạc nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý theo vụ án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ; 01 ba lô, 01 áo mưa là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu huỷ; điện thoại di động thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành tiền án phí.
Về án phí: Buộc bị cáo Ngân Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngân Văn Q 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 29/3/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Ngân Văn Q.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 2432,06 đã lấy mẫu giám định 339,44 gam, còn lại 2092,62 gam ma tuý (nhựa thuốc phiện); 01 ba lô màu đen; 01 áo mưa màu đen.
- Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen để bảo đảm thi hành tiền án phí.
Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngân Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại HN; - TAND cấp cao tại HN; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - Người tham gia tố tụng; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND x. C, h. Q; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHAN - CHỦ TỌA PHIEN TÒA Phạm Hồng Trang |