- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế H S - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Bế H S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày 21-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thụ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Đình Lập
Ông Đàm Văn Hữu
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Quang Toàn, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thiêm, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, tổ chức xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 344/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bế H S, sinh ngày: 27/7/1997 tại huyện T K, tỉnh C
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện: Xóm Bản Tám, xã Q H, huyện T K, tỉnh C Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Bế H C, sinh năm 1968 và bà: Lý T, sinh năm 1969; vợ: Triệu T H, sinh năm 1997; con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 29/12/2020, bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng từ ngày 22/11/2022 đến ngày 19/01/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp Đặt tiền để bảo đảm, bị cáo có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 26/7/2022, tổ công tác Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an tỉnh Cao Bằng; Công an xã Quang Hán và Đồn Biên phòng Cô Mười, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tiến hành kiểm tra nguồn gốc xuất xứ hàng hoá ở kho hàng tại xóm Bản Tám, xã Q H, huyện T K, tỉnh C. Qua kiểm tra,Tổ công tác phát hiện trong kho có 07 (Bảy) bao tải dứa màu đen bên trong chứa các vảy sừng nghi là vảy động vật có tổng khối lượng 200kg (Hai trăm kilogam). Bế H S khai nhận số hàng hóa trên là vảy Tê tê của một người bạn bên Trung Quốc nhờ S cất giữ. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc, niêm phong hàng hóa, đưa người liên quan về Công an tỉnh Cao Bằng để tiếp tục xác minh làm rõ.
Ngày 09/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định số 101/QĐ-CQĐT(CSKT) trưng cầu Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giám định mẫu vật. Tại Kết luận giám định động vật số 1254/STTNSV ngày 24/8/2022 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật kết luận:
1. Toàn bộ số mẫu vảy động vật gửi giám định trong 07 (bảy) hộp nhựa đánh số thứ tự từ 01 đến 07 là vảy loài Tê tê;
2. Kết quả phân tích của 07 (bảy) mẫu lấy ngẫu nhiên từ 07 (bảy) hộp nhựa đánh số thứ tự từ 01 đến 07 là vảy loài Tê tê khổng lồ có tên khoa học Manis gigantea;
3. Loài Tê tê khổng lồ có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 296/TB-CTVN-HTQT ngày 27/11/2019 của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam.
Vảy Tê tê thuộc danh mục cấm đầu tư, kinh doanh quy định trong Điều 6, Luật Đầu tư năm 2020.
Theo Kết luận định giá tài sản số 2231/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2022 của Hội động định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự tỉnh Cao Bằng thì: “Giá trị 200kg (Hai trăm kilogam) vảy của loài Tê tê khổng lồ (Manisgigantea) tại thời điểm tháng 7 năm 2022 là 370.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi triệu đồng chẵn)”.
Tại cơ quan điều tra, Bế H S khai nhận: Vào ngày 24/7/2022 có một người đàn ông Trung Quốc tên T, là bạn làm ăn trước đây của S liên lạc qua mạng xã hội Wechat để nhờ S cất giữ hộ một số hàng hóa, gửi mấy hôm rồi sẽ trả tiền cất giữ, bảo quản cho S, T sẽ cho người chở hàng đến. S đồng ý.
Khoảng 20 giờ 00 ngày 26/7/2022, Nông K N (sinh năm 1991; địa chỉ tổ 2, phường S H, thành phố C B, tỉnh C) dùng số điện thoại 0969.773.991 gọi cho S nói hàng đã đến thị trấn Trà Lĩnh, huyện Trùng Khánh và bảo S ra đón. S lái xe máy đi trước dẫn đường, còn N điều khiển xe ô tô Mitsubishi Pajero màu ghi biển kiểm soát 20A- 475.06 chở hàng theo sau. Vì đường vào nhà của S xe ô tô không đi được nên S dẫn N chở hàng lên kho của Mã V C (sinh năm 1990; địa chỉ xóm Bản Tám, xã Q H, huyện T K, tỉnh C, là anh họ của S) để gửi nhờ mấy hôm. Sau khi hạ hàng từ trên xe ô tô xuống kho, S tiến hành cân 07 bao tải màu đen có tổng khối lượng 200kg (Hai trăm kilôgam).
S biết bên trong các bao tải là vảy Tê tê nhưng do T hứa sẽ trả tiền công nên vẫn nhận cất giữ số hàng cho T. Sau khi cân xong, S khóa cửa kho và sang nhà của Mã V C chơi, một lúc sau có lực lượng chức năng đến kiểm tra, phát hiện số vảy tê tê S cất giấu.
Hành vi của Bế H S đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đề nghị truy tố về tội Tàng trữ hàng cấm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSCB.P1 ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Băng đã truy tố Bế H S về tội Tàng trữ hàng cấm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bế H S phạm tội Tàng trữ hàng cấm.
+ Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bế H S từ 300.000.000đ đến 400.000.000đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 196,5 kg vẩy Tê tê đựng trong 7 bao tải màu đen đã được niêm phong theo quy định, có chữ ký của các thành phần niêm phong và dấu của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cao Bằng; 07 hộp nhựa đựng mẫu vật giám định còn nguyên niêm phong.
- Tịch thu phát mại hóa giá lấy tiền nộp Ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động của Bế H S.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến bổ sung, không có tranh luận;
Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận hành vi phạm tội và mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ khẳng định:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 26/7/2022, Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Cao Bằng; Công an xã Quang Hán và Đồn Biên phòng Cô Mười, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng kiểm tra trong kho hàng tại xóm Bản Tám, xã Q H, huyện T K, tỉnh C, phát hiện Bế H S có hành vi tàng trữ 200kg (Hai trăm kilogam) vảy loài Tê tê khổng lồ nằm trong Phụ lục I, danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp là hàng cấm theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020. Toàn bộ số vảy Tê tê trên có giá trị là 370.000.000đ (Ba trăm bảy mươi triệu đồng), bị cáo thừa nhận cất giữ cho một người đàn ông Trung Quốc tên là T để hưởng tiền công thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến việc bảo vệ bảo tồn động vật hoang dã nguy cấp, nhà nước nghiêm cấm khai thác săn bắt, vận chuyển hoặc mua bán trái phép.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a)…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a)…
h) Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Ngày 18/12/2020 bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng thời hạn xử phạt vi phạm hành chính của bị cáo đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và bị cáo đề nghị được áp dụng hình phạt tiền và cam đoan sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chấp hành án, không tái phạm. Xét thấy ngày 19/01/2023 vợ bị cáo đã nộp số tiền 200.000.000đ tại Ngân hàng để đảm bảo việc chấp hành án, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận xử phạt bị cáo bằng hình phạt tiền để tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước.
Các nhận định khác:
Đối với Nông K N làm nghề chở hàng thuê, và chở hàng để giao cho Bế H S để đưa vào kho của Mã V C, nhưng N không biết bên trong bao tải đen chứa hàng hóa gì nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với N là có căn cứ;
Đối với anh Mã V C là người cùng xóm với bị cáo nhưng quá trình điều tra đã xác định khi bị cáo đưa số hàng cấm vào kho của Công thì bị cáo không cho Công biết là vảy tê tê nên CQĐT không xử lý Công là có căn cứ.
Đối với người đàn ông Trung Quốc tên T và người đàn ông thuê xe ô tô của Nông K N để chở hàng. Tuy nhiên các đối tượng này không có tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan CSĐT điều tra không có căn cứ để mở rộng vụ án.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 07 (Bảy) bao tải đựng vảy tê tê và 07 hộp nhựa đựng mẫu vật giám định còn nguyên niêm phong; Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động của bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh, mức hình phạt, về xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Bị cáo Bế H S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt Bế H S 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng chẵn) để nộp Ngân sách Nhà nước.
(Xác nhận ngày 19/01/2023, gia đình bị cáo đã nộp số tiền 200.000.000đ để đảm bảo tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Cao Bằng). Tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo việc thi hành án).
Bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng chẵn) để nộp vào Ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 07 bao tải màu đen: 196,5 kg vẩy Tê tê đựng trong 7 bao tải màu đen đã được niêm phong theo quy định, có chữ ký của các thành phần niêm phong và dấu của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cao Bằng;
+ 07 hộp nhựa đựng mẫu vật giám định còn nguyên niêm phong.
-Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 (Một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “điện thoại di động của Bế H S”, mặt sau có chữ ký của Điều tra viên Mông Tùng Nghĩa và bị can Bế H S.
(Xác nhận toàn bộ số vật chứng trên đã được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cao Bằng chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số 119 ngày 01 tháng 6 năm 2023).
4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án; Bị cáo Bế H S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ để nộp Ngân sách nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Cao Bằng; - Cục THADS tỉnh Cao Bằng; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư pháp CB; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thụ |