- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thắng trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụng hình hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP TỈNH BN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày 30/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP, TỈNH BN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh H.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Đình C, bà Nguyễn Thị H.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Bích N- Thư ký Tòa án nhân dân huyện YP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Q- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YP. tỉnh BN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2023/TLST- HS ngày 05/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST- HS ngày 16/6/2023 đối với:
Bị cáo: Ngô Văn T, sinh năm 1995;
HKTT: 1/6 Đinh Bộ L, phường NT, thành phố NĐ, tỉnh NĐ;
Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn N, sinh năm 1965 và bà Ngô Thị Thu H, sinh năm 1969; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ con; chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ 26/4/2023 đến ngày 05/5/2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay, bị cáo đang tại ngoại ở địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH H F S V. Địa chỉ: Lô CN 8- 1, Khu Công nghiệp YP II-C, xã TG, thị trấn C, huyện YP, tỉnh BN.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị Â, sinh năm 1977. Chức vụ: Trường phòng Hành chính- nhân sự của Công ty; HKTT: Khu HV, phường VD, TP. BN, tỉnh BN. (xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Sỹ H, sinh năm 1995; HKTT: 1/6 Đinh Bộ L, phường NT, thành phố NĐ, tỉnh NĐ. (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/4/2023, Công ty TNHH H F S V (gọi tắt là Công ty TNHH H) gửi kế hoạch mời đoàn khách đến thăm quan, làm việc tại Công ty TNHH H, thời gian làm việc từ ngày 23/4/2023 đến 26/4/2023. Trong Lịch trình thăm quan nhà máy, Công ty TNHH H có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tài sản của Đoàn khách trong toàn bộ lịch trình; bồi thường thiệt hại khi mất mát, hư hỏng; thay mặt Đoàn khách để giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan tới việc bảo quản tài sản, giữ gìn tài sản. Ngày 21/4/2023, Công ty TNHH H thuê Ngô Văn T để phiên dịch cho đoàn khách đến tham quan, làm việc vào ngày 24/4/2023.
Khoảng 11 giờ ngày 24/4/2023, đoàn khách nước ngoài đến và họp tại Công ty TNHH H, Ngô Văn T cùng tham gia phiên dịch cho đoàn khách tại phòng họp VIP. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, đoàn khách đi ăn cơm, để toàn bộ balo đồ đạc tại phòng họp cho Công ty TNHH H quản lý, trông coi. Thời điểm này, chỉ có T ở lại phòng họp nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong ba lô của khách. T đi đến vị trí để balo trên ghế ngồi dãy bên trong phòng họp, sau đó lục tìm trong 03 chiếc ba lô thì thấy cả 03 chiếc balo đều có tiền USD (đô la Mỹ). T lấy trong 02 chiếc ba lô, mỗi chiếc đươc số tiền 1.000 USD và lấy trong chiếc balo còn lại số tiền 300 USD, tổng số tiền T lấy được là 2.300 USD. Sau đó T đút số tiền vừa trộm cắp được vào túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đi ra ngoài Công ty đi dạo. Đến chiều ngày 24/4/2023, sau khi kết thúc buổi làm việc tại Công ty TNHH H thì T mang số tiền USD trộm cắp được đến cửa hàng vàng bạc TK ở khu đô thị KH, phường KH, quận HĐ, thành phố HN, do chị Trịnh Thị T, sinh năm 1989 là quản lý. Tại đây, T đổi số tiền 2.050 USD thành 47.715.000 đồng. Toàn bộ số tiền trộm cắp được T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến 15 giờ ngày 25/4/2023, những người trong đoàn khách tại Công ty TNHH H phát hiện bị mất số tiền 2.300 USD. Công ty TNHH H đã bồi thường cho những người khách trên số tiền 2.300 USD. Sau đó, phía Công ty TNHH H đã kiểm tra, rà soát và phát hiện Ngô Văn T là đối tượng tình nghi trộm cắp tiền, nên ngày 26/4/2023, Công ty TNHH H có đơn trình báo đến Công an huyện YP, yêu cầu xử lý đối với T.
Nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân, hồi 14 giờ 00 ngày 26/4/2023, Ngô Văn T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện YP đầu thú. Cơ quan điều tra thu giữ của T 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, lắp SIM số 0919.805.033; 01 túi đeo màu đen và số tiền 420.000 đồng.
Ngày 04/5/2023, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện YP có Công văn số 117, nội dung thông tin tỷ giá hối đoái mua vào quy đổi từ đồng USD sang VND ngày 24/4/2023 là 23.300 VND/USD. Như vậy, giá trị tài sản do Ngô Văn T trộm cắp là 53.590.000 đồng.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 80/CT- VKSYP ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện YP đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện YP để xét xử bị cáo Ngô Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN đã truy tố bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất của vụ án, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 24 đến 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 đến 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Lưu giữ 01 USB có chứa video trích xuất từ camera an ninh của Công ty TNHH H và 01 đĩa CD ghi âm khi hỏi cung bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện YP, tỉnh BN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình hình sự 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 24/4/2023, tại Phòng họp của Công ty TNHH H F S V, địa chỉ ở khu công nghiệp YP II-C, huyện YP, tỉnh BN, Ngô Văn T đã có hành vi trộm cắp số tiền 2.300 USD, tương đương 53.590.000 đồng trong 03 balo do Công ty TNHH H F S V quản lý. Sau đó, T đổi 2.050 USD sang tiền Việt Nam đồng ở cửa hàng vàng bạc TK tại khu đô thị KH, phường KH, quận HĐ, thành phố Hà Nội. Số tiền trộm cắp được T đã chi tiêu cá nhân hết. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục bị cáo thành công dân tốt và có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã đến Công an huyện YP đầu thú. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và cũng không có tài sản riêng nên cần miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Sỹ H đã thay mặt bị cáo bồi thường đầy đủ cho bị hại với số tiền 53.590.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và anh Ngô Sỹ H cũng không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 01 USB có chứa video trích xuất từ camera an ninh của Công ty TNHH H và 01 đĩa CD ghi âm khi hỏi cung bị cáo là tài liệu quan trọng nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Liên quan trong vụ án này có Cửa hàng vàng TK do chị Trịnh Thị T làm quản lý là nơi bị cáo đã đổi 2.050 USD sang Việt Nam đồng. Khi đổi tiền thì bị cáo không nói cho chị Thơm biết về nguồn gốc số tiền đã đổi, chị Thơm không biết số tiền đó do bị cáo trộm cắp được nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với chị Thơm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện YP đã có công văn gửi Công an quận HĐ, thành phố Hà Nội để xem xét, xử lý đối với Cửa hàng vàng TK có hành vi vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, lắp SIM số 0919.805.033; 01 túi đeo màu đen và số tiền 420.000 đồng là những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện YP đã trả lại cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Giao bị cáo cho UBND phường Năng Tĩnh, thành phố NĐ, tỉnh NĐ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB có chứa video trích xuất từ camera an ninh của Công ty TNHH H và 01 đĩa CD ghi âm khi hỏi cung bị cáo.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh BN; - VKSND huyện YP; - Công an huyện YP; - Chi cục THADS huyện YP; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh H |