vanban.org

Bản án 80/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn M 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HS-ST
Ngày 27 – 9 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Tam Bình gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bé Hai

2. Ông Phan Kiên Nhẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình và tại Phòng họp số 02 Ủy ban nhân dân huyện T sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 76/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn M, sinh năm 1978 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị Bé H1; vợ Lê Thị T và 02 người con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2002).

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 19/5/2023 đến nay và có mặt tại điểm cầu thành phần Phòng họp số 02 Ủy ban nhân dân huyện T.

- Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

2/ Chị Nguyễn Thị Kim S1, sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

- Ngoài ra, tại điểm cầu thành phần Phòng họp số 02 Ủy ban nhân dân huyện T gồm có:

Tòa án nhân dân huyện Tam Bình: Ông Nguyễn Văn C – Thẩm phán

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Ông Nguyễn Tấn Đ – Kiểm sát viên.

Chiến sỹ Nhà tạm giữ Công an huyện T gồm có: Trần Lê Công D, Nguyễn Trọng K, Trương Thanh P, Nguyễn Thanh P1, Lê Quang Thái P2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 19/5/2023 tại nhà của Trần Văn M ngụ ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, lực lượng Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã N tiến hành kiểm tra bắt các đối tượng Trần Văn M, Nguyễn Văn S và Cao Thị Kim S2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma tuý (niêm phong đánh số 1).

- 01 hộp nhựa trong suốt có nắp đậy màu hồng trên nắp có gắn 01 co thủy tinh và 01 ống nhựa màu đen (loại ống hút) bên trong rỗng; 01 cây kéo kim loại, 01 hột quẹt gas màu vàng.

- 01 hộp nhựa màu trắng có ghi dòng chữ “Melasma Cream” bên trong hộp nhựa có 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong các ống hút nhựa đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy (niêm phong đánh số 2).

- 15 đoạn ống thủy tinh trong suốt hở hai đầu bên trong rỗng.

- 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA của Trần Văn M.

- 01 điện thoại di động màu đen hiệu OPPO của Cao Thị Kim S2.

- 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA và 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG có mặt sau màu xanh của Nguyễn Văn S.

Quá trình điều tra Trần Văn M đã thừa nhận mua ma túy ở cầu P thuộc thị xã B, tỉnh Vĩnh Long của một thanh niên tên H2 (không rõ họ tên địa chỉ) với giá 200.000 đồng để sử dụng. Khi mua ma túy về thì M phân chia ra thành 04 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín và một bịch nylon trong suốt được hàn kín. Khi phân chia ma túy xong M đem 04 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín để vào 01 hộp nhựa màu trắng có ghi dòng chữ Melasma Cream rồi đem cất giấu ở trên đầu tủ gỗ trong phòng ngủ của M, còn 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín thì bị cáo đem cất giấu dưới nệm trong phòng khách. Sau đó bị cáo M tổ chức nhậu cùng với Cao Thị Kim S2 và Nguyễn Văn S, uống được khoảng 02 chai bia thì M nghỉ, còn S và S2 tiếp tục ngồi nhậu. Một lúc sau bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.

Theo kết luận số 337/KL-KTHS ngày 22/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1617 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 04 ống nhựa được niêm phong trong phong bì (đánh số 2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2566 gam, loại Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy trong 02 gói niêm phong là 0,4183 gam.

Ngày 25/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng (bên trong phong bì đánh số 1) còn lại sau giám định, có khối lượng 0,1239 gam; mẫu tinh thể rắn màu trắng (bên trong phong bì đánh số 2) còn lại sau giám định, có khối lượng 0,2080 gam và vỏ bao gói.

- 01 hộp nhựa trong suốt có nắp đậy màu hồng trên nắp có gắn 01 co thủy tinh và 01 ống nhựa màu đen (loại ống hút) bên trong rỗng; 01 cây kéo kim loại, 01 hột quẹt gas màu vàng.

- 01 hộp nhựa màu trắng có ghi dòng chữ “Melasma Cream”.

- 15 đoạn ống thủy tinh trong suốt hở hai đầu bên trong rỗng.

- 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA của Trần Văn M.

- Đối với 01 điện thoại di động màu đen hiệu OPPO của Cao Thị Kim S2 và 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG có mặt sau màu xanh của Nguyễn Văn S không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu.

Tại Cáo trạng số: 79/CT-VKSTB ngày 28/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn M thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đối với Nguyễn Văn S và Cao Thị Kim S2 chỉ ngồi nhậu tại nhà của M không có liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng qua kết quả thử test nhanh chất ma túy đối với S và S2 cho kết quả dương tính với chất ma túy nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Riêng đối với người có tên H2 do bị cáo M khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có đủ cơ sở xác minh để xử lý.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn M mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S3) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong số 337/1 ngày 25/5/2023 bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,1239 gam và vỏ bao gói.

- 01 phong bì niêm phong số 337/2 ngày 25/5/2023 bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,2080 gam và vỏ bao gói.

- 01 hộp nhựa trong suốt có nắp đậy màu hồng, trên nắp có gắn 01 co thủy tinh và 01 ống nhựa màu đen (loại ống hút), bên trong rỗng; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 hột quẹt gas màu vàng.

- 01 hộp nhựa màu trắng có ghi dòng chữ “Melasma Cream”.

- 15 đoạn ống thủy tinh trong suốt hở hai đầu bên trong rỗng.

Trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu NOKIA, đã qua sử dụng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 13 giờ ngày 19/5/2023, tại nhà của Trần Văn M thuộc: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã N tiến hành kiểm tra bắt quả tang Trần Văn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng 0,4183 gam loại: Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi của bị cáo Trần Văn M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật, thấy được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời giúp bị cáo cai nghiện, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại là Liệt sĩ, bà ngoại được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong số 337/1 ngày 25/5/2023 bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,1239 gam và vỏ bao gói.

- 01 phong bì niêm phong số 337/2 ngày 25/5/2023 bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,2080 gam và vỏ bao gói.

- 01 hộp nhựa trong suốt có nắp đậy màu hồng, trên nắp có gắn 01 co thủy tinh và 01 ống nhựa màu đen (loại ống hút), bên trong rỗng; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 hột quẹt gas màu vàng.

- 01 hộp nhựa màu trắng có ghi dòng chữ “Melasma Cream”.

- 15 đoạn ống thủy tinh trong suốt hở hai đầu bên trong rỗng.

Trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu NOKIA, đã qua sử dụng.

Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 07/9/2023.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo M phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn M 01 (Một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (Một) phong bì niêm phong số 337/1 ngày 25/5/2023 bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,1239 gam và vỏ bao gói.

- 01 (Một) phong bì niêm phong số 337/2 ngày 25/5/2023 bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,2080 gam và vỏ bao gói.

- 01 (Một) hộp nhựa trong suốt có nắp đậy màu hồng, trên nắp có gắn 01 co thủy tinh và 01 ống nhựa màu đen (loại ống hút), bên trong rỗng; 01 cây kéo bằng kim loại;

- 01 (Một) hột quẹt gas màu vàng.

- 01 (Một) hộp nhựa màu trắng có ghi dòng chữ “Melasma Cream”.

- 15 (Mười lăm) đoạn ống thủy tinh trong suốt hở hai đầu bên trong rỗng.

Trả cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu NOKIA, đã qua sử dụng.

Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 07/9/2023.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ