vanban.org

Bản án 80/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng L Ề phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng L Ề: 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Lô Ề - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng L Ề phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TAND HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 80/2023/HS-ST
Ngày 12 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Chiến – Giáo viên, ông Vàng A Măng – Cán bộ nghỉ hưu.

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: bà Đặng Ngọc Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2023/HSST ngày 03 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 14/8/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng L Ề; tên gọi khác: không; Sinh ngày: 15/01/2003, tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản Ph 1, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giàng A L – sinh năm 1974 và con bà Lý Thị P – sinh năm 1979; gia đình bị cáo có 04 anh, em; bị cáo là con thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con;

- Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Tại bản án số 20/2023/HS-ST ngày 13/01/2023, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự xử phạt Giàng Lô Ề 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 01 năm 04 tháng về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: không;

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/4/2023, đến ngày 25/4/2023 bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. cháu Vàng Thị M –sinh năm 2011 – Vắng mặt và có đơn vắng mặt.

Địa chỉ: bản Nậm Tần M 1, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.

Người đại diện cho cháu Má: ông Vàng A S – sinh năm 1992 – vắng mặt có đơn vắng mặt.

Địa chỉ: bản Nậm Tần M 1, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.

2. Cháu Giàng Thị Máy S – sinh năm 2011 – Vắng mặt và có đơn vắng mặt.

Địa chỉ: bản Ph 2, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.

Người đại diện cho cháu Sinh: ông Giàng A X – sinh năm 1970.

Địa chỉ: bản Ph 2, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Cháu Giàng A K – sinh năm 2011 – Vắng mặt có đơn vắng mặt.

Địa chỉ: bản Ph 1, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.

Người đại diện cho cháu K: ông Giàng A L – sinh năm 1974 – Vắng mặt có đơn vắng mặt.

Địa chỉ: bản Ph 1, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào ngày 09/4/2023, Giàng A K (sinh năm 2011, học sinh lớp 6 trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ) và anh trai Giàng L Ề đang đi chăn trâu tại bản Ph 1, xã Pa T, huyện Sìn H thì K nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại của bạn học cùng trường đem bán lấy tiền. Ka hỏi Ề có biết chỗ nào bán điện thoại không, Ề trả lời là có, sau đó Ề bảo Ka trộm được điện thoại thì đưa cho mình đem bán lấy tiền, Ka đồng ý. Khoảng 16 giờ ngày 16/4/2023, K đi từ dãy nhà B ký túc xá của trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ sang dãy nhà C. Thấy cửa phòng C7 khép hờ không có người bên trong, Ka đẩy cửa đi vào. Tại cuối giường ký túc xá tầng một đối diện ngay cửa vào Ka thấy có chiếc điện thoại OPPO A31 màu đỏ của Vàng Thị Má, sinh năm 2011 và chiếc điện thoại Xiaomi Redmi A9 màu đen của Giàng Thị Máy Sinh, sinh năm 2011 đang cắm sạc. Ka rút sạc của hai chiếc điện thoại ra sau đó cầm hai điện thoại đi về phía cửa sổ của phòng, tại bậu cửa sổ, Ka để hai chiếc điện thoại xuống, dùng hai quyển sách đè lên để che đi. Thực hiện xong, Ka đi ra ngoài, thấy có chiếc túi bóng màu hồng trên giường Ka cầm lấy. Ka đi ra phía sau phòng ký túc xá C7, trèo lên gờ tường bám vào khung cửa sổ, lấy 02 chiếc điện thoại OPPO và Xiaomi cho vào túi quần, sau đó Ka trèo qua tường bê tông của trường đi ra phía đồi sau trường, tới gốc một cây xoài, Ka cho cả hai chiếc điện thoại vừa trộm được vào túi bóng màu hồng buộc lên cành cây xoài với mục đích che giấu hai chiếc điện thoại. Giấu điện thoại xong, Ka quay lại theo đường cũ về phòng ký túc xá của mình. Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 16/4/2023 Ề cùng em họ là Giàng A Mình, sinh năm 2003, trú cùng bản đi xe máy của gia đình Mình xuống trung tâm xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ để chơi điện tử. Đến khoảng 17 giờ chiều Ề mượn xe máy của Giàng A Dìa, nhà ở bản Nậm Tiến 1, xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ cũng chơi điện tử ở đó để đi sang trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở xã Pa Tần để gập Ka. Ề đi xe máy theo đường mòn phía sau trường học, dựng xe máy ở trên đồi rồi đi ra phía sau dãy nhà ký túc xá Ka ở, Ề đứng đó khoảng 05 phút thì thấy Ka chui qua song sắt cửa sổ phòng B3 ký túc xá đi ra gặp Ề. Khi ra tới nơi thì Ka nói “anh ơi em trộm được điện thoại rồi”, sau đó Ka cùng Ề đi xe máy theo đường mòn phía sau trường học tới gốc một cây xoài, Ka tháo 01 túi nilon màu hồng đựng 02 chiếc điện thoại buộc trên cây xoài đưa cho Ề, Ề cầm rồi giấu hai chiếc điện thoại trên vào túi quần bên trái đang mặc của mình. Đưa điện thoại cho Ề xong Ka quay lại đường cũ đi vào trường, Ề đi xe máy quay về quán Intenet trả xe máy cho Dìa, rồi cùng Mình đi về nhà. Khi về tới nhà Ề lấy hai chiếc điện thoại đó ra xem, lúc này cả hai chiếc đều trong trạng thái tắt nguồn, Ề mở nguồn chiếc điện thoại Oppo thì điện thoại cài mật khẩu, Ề đã tháo sim của của hai chiếc điện thoại trên ra cất giấu hai chiếc sim và chiếc điện thoại Xiaomi ở đầu giường ngủ của Ề, rồi cầm theo chiếc điện thoại Oppo đi cùng bạn xuống sân bóng bản An Tần, xã Pa Tần để chơi. Tại đây Ề gặp Nam, nhà ở cây xăng xã Pa Tần, do không có tiền đi đá bóng, Ề đã nhờ Nam mang chiếc điện thoại Oppo đi cắm lấy tiền nhưng không cắm được. Ề biết việc Ề và Ka trộm cắp điện thoại đã bị phát hiện, nên Ề xuống Công an xã Pa Tần đầu thú và giao nộp 02 chiếc điện thoại di động cho Công an. Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra. Kết quả thực nghiệm điều tra đều phù hợp với lời khai của Giàng Lô Ề tại Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau: 01 chiếc điện thoại di động OPPO A31 màu đỏ, 01 chiếc điện thoại di động Xiaomi Redmi A9 màu đen là điện thoại Ka và Ề trộm của Giàng Thị Máy S và Vàng Thị M. Ngày 23/5/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho bị hại Giàng Thị Máy S và Vàng Thị M.

Tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2023, của Hội đồng định giá tài sản huyện Sìn Hồ kết luận: “01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31, màu đỏ có trị giá là 1.500.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi - Redmi A9, màu đen có trị giá là 1.500.000 đồng. Tổng trị giá hai chiếc điện thoại là 3.000.000 đồng".

Bản cáo trạng số 51/CT - VKSSH ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Giàng L Ề ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng: khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Giàng L Ề từ 09 đến 12 tháng tù.

Áp dụng Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự: Tại bản án số 20/2023/HS-ST ngày 13/01/2023, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xử phạt Giàng L Ề 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, nay chuyển thành án giam và tổng hợp với hình phạt của bản án này. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị hại, đại diện bị hại: đã nhận lại tại sản và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: đã giải quyết xong trong quá trình điều tra nên không đề nghị xem xét.

Bị cáo nhất trí không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sìn Hồ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: ngày 16/4/2023, Giàng A K đã nói với Giàng L Ề để thực hiện hành vi trộm cắp chiếc 01 chiếc điện thoại di động OPPO A31 màu đỏ, 01 chiếc điện thoại di động Xiaomi Redmi A9 màu đen của Giàng Thị Máy Sinh và Vàng Thị M, hai chiếc điện thoại có tổng giá trị 3.000.000 đồng với mục đích đem bán để lấy tiền tiêu sài cá nhân.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích trộm tài sản để bán kiếm lời cho bản thân nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại bản Pho 1, xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ xã đặc biệt khó khăn, bị cáo đã ra đầu thú nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đó là: “Tái phạm”. Bị cáo đã có một tiền án chưa đước xóa án tích, bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên cần có hình phạt tương xứng và tổng hợp hình phạt với bản án bị cáo chưa được xóa án tích. Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: đã xử lý và trả lại cho bị hại trong quá trình điều tra là đúng quy định của pháp luật.

Về các vấn đề liên quan:

Đối với Giàng A K, khi K thực hiện hành vi phạm tội mới 11 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự nên không xử lý hình sự.

Đối với người thanh niên tên N, Giàng L Ề nhờ mang điện thoại đi cắm, do Nam không biết điện thoại đó là do Ề trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự. Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:

1. Tuyên bố bị cáo Giàng L Ề phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng L Ề: 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt với bản án số 20/2023/HS-ST ngày 13/01/2023, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xử phạt Giàng L Ề 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, nay chuyển thành án giam. Bị cáo chấp hành chung hình phạt hai bản là: 17 (Mười bẩy) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị hại, người đại diện của bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ