vanban.org

Bản án 80/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 10 tháng 5 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HS-ST
Ngày: 13-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hòa;

Ông Huỳnh Thanh Hưng.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huy n B u B ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện àu àng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n B u B ng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST – HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Minh T, sinh năm 2004 tại Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Ô, xã C, huy n B, tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: không; trình độ h c vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Minh T1 và bà Lê Thị Cẩm T2; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ ng y 10 tháng 5 năm 2023 đến ngày 19 tháng 5 năm 2023 tạm giam đến nay; có mặt.

Bị hại: Bà Moong Thị H, sinh năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản K, xã K, huy n K, tỉnh Ngh An; chỗ ở hi n nay: Bản H, xã H, huy n K, tỉnh Ngh An; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Trần Thị Ng c G, sinh năm 2009; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp S, xã K, huy n A, tỉnh An Giang; chỗ ở hi n nay: khu phố A, phường A, th nh phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại di n hợp pháp: Chị Trần Thị L, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp S, xã K, huy n A, tỉnh An Giang; chỗ ở hi n nay: khu phố A, phường A, th nh phố T, tỉnh Bình Dương, l người đại di n theo pháp luật (mẹ của G); vắng mặt.

2. Bà Lài Thị M, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn G, xã Đ, huy n Đ, tỉnh Đắk Lắk; tạm trú: khu phố Đ, thị trấn L, huy n B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1956; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số C, khu phố D, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nơi ở hi n tại: khu phố D, phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về h nh vi phạm tội của bị cáo:

Lê Minh T và Trần Thị Ng c G là bạn bè quen biết với nhau. Vào ngày 05 tháng 05 năm 2023, do không có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định trôm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu x i. Để thực hi n h nh vi, T rủ G đi mua kìm cộng lực về để đi trộm cắp tài sản, G đồng ý đi cùng T. T và G đến cửa hàng ở khu vực đường S, khu phố Đ, thị trấn L, huy n B, tỉnh Bình Dương mua 01 kìm cộng lực bằng kim loại, màu xanh, dài khoảng 60cm rồi đem về để sẵn ở phòng tr số D, nh tr H1, khu phố Đ, thị trấn L, huy n B, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ng y 06 tháng 5 năm 2023, T thấy b Moong Thị H ở tr tại phòng số 11, nhà T đi vắng nên T dùng kìm cộng lực đã chuẩn bị sẵn phá khóa phòng bà H. Tại đây T lấy trộm 01 laptop nhãn hi u HP240, 01 đi n thoại di động hàng không chính hãng, kiểu dáng Iphone 13 Promax, 01 máy phun xăm hi u Thần Thánh, 01 bộ dụng cụ làm nail gồm 20 l son dưỡng môi v 02 kim phun xăm 11pen, 01 máy chăm sóc da mặt 5 in 1 nhãn hi u Ultrasonic, 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Vision, m u đen đỏ, biển số 48H1-146.17 của bà H. Sau khi lấy trộm tài sản, T đem t i sản về phòng tr số 4, T cùng G thu d n đồ đem t i sản đi tiêu thụ, chỉ để lại phòng tr 01 máy phun xăm hi u Thần Thánh, 01 bộ dụng cụ l m nail. Đến khoảng 02 giờ 30, cùng ngày T điều khiển xe mô tô vừa lấy trộm được chở theo G cùng tài sản trộm cắp đi về phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để cất dấu và tiêu thụ. Khi tới đây, G đem 01 máy chăm sóc da mặt 5 in 1 nhãn hi u Ultrasonic về nh của mình ở th nh phố T, tỉnh Bình Dương để cất dấu, còn T đem 01 laptop nhãn hi u HP240 đến cửa hàng C ở phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương bán với giá 2.000.000 đồng. Sau khi bán xong máy tính, thông qua mạng xã hội Facebook Trí tiếp tục bán 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Vision, m u đen đỏ, biển số 48H1-146.17 cho người thanh niên ở khu vực đường M - T, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương với giá 5.200.000 đồng. Tất cả số tiền trên T tiêu x i cá nhân hết, còn 01 đi n thoại di động hàng không chính hãng, kiểu dáng Iphone 13 Promax do không bán được nên T để sử dụng rồi sau đó bỏ trốn cùng G. Đến sáng ngày 06 tháng 5 năm 2023, bà H về phòng tr phát hi n bị mất trộm nên trình báo cơ quan Công an thị trấn L. Sau khi tiếp nhận tin báo Công an thị trấn L phối hợp với Đ1 Công an huy n B điều tra làm rõ. Đến ng y 10 tháng 05 năm 2023, Công an huy n B đã bắt khẩn cấp đối với T, mời Giàu về làm vi c.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận h nh vi phạm tội đã thực hi n đúng như Cáo trạng truy tố.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa; quá trình điều tra, truy tố, không ai có ý kiến gi về hành vi phạm tội của bị cáo.

Các vấn đề khác của vụ án:

Tại Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ng y 10 tháng 5 năm 2023 và Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài li u ng y 11 tháng 5 năm 2023, thu giữ của bị cáo gồm 01 đi n thoại di động hàng không chính hãng, kiểu dáng Iphone 13 Promax số IMEI 1: 3552092900367810, số IMEI 2: 355209290367828 m u trắng v 01 kìm cộng lực kim loại, m u xanh, chiều d i 60 cm.

Tại Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài li u ng y 11 tháng 5 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B thu giữ của G 01 máy chăm sóc da mặt 5 in 1 nhãn hi u Ultrasonic.

Tại Biên bản khám nghi m hi n trường ng y 06 tháng 5 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B thu giữ được: 01 ổ khóa nhãn hi u Vi t Ti p cao khoảng 07cm, ngang 04 cm, 01 đôi dép quai ngang có hoa văn, m u đen, 01 vỏ hộp dựng kìm cộng lực, 01 bộ máy phun xăm, 01 bộ dụng cụ l m nail.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/KL-HDĐG ng y 17 tháng 05 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n B kết luận: 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, m u đen đỏ, số khung JF66E0756570, số máy 5816GY423822, biển số 48H1-146.17, đăng ký lần đầu tháng 12 năm 2017 trị giá: 15.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34/KL-HDĐG ng y 24 tháng 05 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n B kết luận: 01 đi n thoại di động hàng không chính hãng, kiểu dáng Iphone 13 Promax số IMEI 1: 3552092900367810, số IMEI 2: 355209290367828, màu trắng sử dụng từ tháng 07 năm 2022 trị giá 1.500.000 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hi u HP240 G8 i3, sử dụng từ tháng 9 năm 2022 trị giá 5.500.000 đồng; 01 máy phun xăm nhãn hi u Thần Thánh mua mới tháng 03 năm 2023 trị giá 800.000 đồng; 01 bộ dụng cụ làm nail (gồm 20 l son dưỡng môi và 02 kim phun xăm 11pen), mua mới tháng 05 năm 2023 chưa sử dụng trị giá 265.000 đồng; 01 máy chăm sóc da mặt 5 in 1 nhãn hi u Ultrasonic, mã M-2887 mua mới tháng 05 năm 2023 chưa sử dụng trị giá 1.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được định giá là 9.465.000 đồng.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Vision, m u đen đỏ, biển số 48H1-146.17, T đã bán cho người thanh niên không rõ h tên, địa chỉ nên không thể thu hồi được.

Bà Đ sau khi mua 01 máy tính laptop nhãn hi u HP240 của T đã bán lại tài sản trên cho người khách không rõ h tên, địa chỉ với giá 2.800.000 đồng nên không thể thu hồi được. Bà Đ không biết tài sản mua của T là do phạm tội mà có. Do đó, h nh vi của hộ kinh doanh cầm đồ Bảo T3 không đủ yếu tố cấu thành về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 34/KL-HDĐG ng y 24 tháng 05 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n B kết luận: 01 ổ khóa nhãn hi u Vi t Ti p cao khoảng 07cm, ngang 04 cm, sử dụng từ tháng 4/2023 trị giá 30.000 đồng. Do đó, h nh vi dùng kìm cộng lực bẻ ổ khóa của phòng bà Moong Thị H của T không đủ yếu tố cấu thành về tội “Hủy hoại t i sản”.

Đối với Trần Thị Ng c G sinh ngày 15 tháng 01 năm 2009, phạm tội ít nghiêm tr ng và khi phạm tội G chưa đủ 16 tuổi, nên G chưa đủ tuổi chịu trách nhi m hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 nên Cơ quan cảnh sát điều tra không khởi tố về h nh vi “Trộm cắp tài sản” đối với G.

Về trách nhi m dân sự v xử lý vật chứng:

Đối với 01 đi n thoại di động hàng không chính hãng, kiểu dáng Iphone 13 Promax số IMEI 1: 3552092900367810, số IMEI 2: 355209290367828, m u trắng; 01 máy phun xăm hi u Thần Thánh; 01 bộ dụng cụ làm nail (gồm 20 l son dưỡng môi v 02 kim phun xăm 11pen); 01 máy chăm sóc da mặt 5 in 1 nhãn hi u Ultrasonic là tài sản hợp pháp của bà H. Ngày 07 tháng 7 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 34/QĐ-CSHS trả lại cho bà H. Bà H đã nhận lại t i sản trên v không có ý kiến gì.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, m u đen đỏ, số khung JF66E0756570, số máy 5816GY423822, biển số 48H1-146.17 qua xác minh chủ sở hữu hợp pháp là bà Lài Thị M. V o ng y 05 tháng 5 năm 2023, b M cho bà H mượn xe để sử dụng thì bị mất. B H yêu cầu T và G bồi thường thi t hại theo giá trị của Bản kết luận định giá tài sản. T đồng ý v chịu trách nhi m bồi thường luôn cho G, nhưng chưa có tiền bồi thường.

Về trích dẫn cáo trạng của Vi n kiểm sát:

Bản Cáo trạng số 72/CT-VKSBB ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n B u B ng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 vỏ hộp kìm cộng lực; 01 kìm cộng lực kim loại, m u xanh, chiều d i 60cm; 01 ổ khóa Vi t Ti p đã bị cắt; 01 đôi dép quai ngang có hoa văn, m u đen l vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhi m dân sự: Buộc bị cáo có trách nhi m bồi thường cho bị hại bà Moong Thị H số tiền 15.000.000 đồng.

Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Vi n kiểm sát v luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đồng ý bồi thường thi t hại cho bị hại H số tiền 15.000.000 đồng

Bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức được hành vi của mình l vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1.1] Bị hại v người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng không trở ngại cho vi c giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: v o lúc 01 giờ 30 phút ng y 06 tháng 05 năm 2023, tại phòng tr số A, nh T thuộc khu phố Đ, thị trấn L, huy n B, tỉnh Bình Dương bị cáo có hành vi lén lút lấy trộm 01 laptop nhãn hi u HP240; 01 đi n thoại di động hàng không chính hãng, kiểu dáng Iphone 13 Promax; 01 máy phun xăm hi u Thần Thánh; 01 bộ dụng cụ làm nail (gồm 20 l son dưỡng môi v 02 kim phun xăm 11pen); 01 máy chăm sóc da mặt 5 in 1 nhãn hi u Ultrasonic; 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Vision, m u đen đỏ, biển số 48H1-146.17 của bị hại. T i sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại có trị giá 24.465.000 đồng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài li u, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản Cáo trạng v diễn biến tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 l ho n to n đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự. H nh vi của bị cáo l rất nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Vì tham lam tư lợi, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động nên bị cáo đã thực hi n h nh vi trộm cắp t i sản. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo v mà còn gây mất an ninh, trật tự trong khu vực. Năm 2022, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huy n Bình Chánh,Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp h nh xong v o ng y 04 tháng 5 năm 2022, tuy nhiên tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên lần phạm tội này bị cáo được đương nhiên xóa án tích theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhưng bị cáo không rút ra được kinh nghi m cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Điều này thể hi n sự xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét nên xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét to n di n các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo như sau.

Tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy mức hình phạt m đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bàu B ng đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hi n nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 07 tháng 7 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 34/QĐ-CSHS trả lại cho b H 01 đi n thoại di động hàng không chính hãng, kiểu dáng Iphone 13 Promax số IMEI 1: 3552092900367810, số IMEI 2: 355209290367828, màu trắng; 01 máy phun xăm hi u Thần Thánh; 01 bộ dụng cụ làm nail (gồm 20 l son dưỡng môi và 02 kim phun xăm 11pen); 01 máy chăm sóc da mặt 5 in 1 nhãn hi u Ultrasonic là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 vỏ hộp kìm cộng lực; 01 kìm cộng lực kim loại, m u xanh, chiều d i 60cm; 01 ổ khóa Vi t Ti p đã bị cắt; 01 đôi dép quai ngang có hoa văn m u đen l công cụ phương ti n bị cáo thực hi n hành vi phạm tội xét thấy không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 v khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhi m bồi thường thi t hại:

Bị hại H yêu cầu bị cáo bồi thường lại trị giá của 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Vision, m u đen đỏ, số khung JF66E0756570, số máy 5816GY423822, biển số 48H1-146.17, đăng ký lần đầu tháng 12 năm 2017 số tiền l 15.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử quyết định bị cáo T có trách nhi m trả cho bị hại chị Moong Thị H số tiền 15.000.000 đồng.

Đối với hành vi mua 01 laptop nhãn hi u HP240 của bị cáo nhưng không biết đây l t i sản do bị cáo trộm cắp m có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B không xử lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của G thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng và khi thực hi n hành vi phạm tội G chưa đủ 16 tuổi nên thuộc trường hợp chưa đủ tuổi chịu trách nhi m hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B không tiến hành khởi tố đối với G là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .

Căn cứ v o Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 331 v Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 v khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 2 Điều 586 và khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ng y 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý v sử dụng án phí, l phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 10 tháng 5 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ hộp kìm cộng lực (đã qua sử dụng); 01 kìm cộng lực kim loại, m u xanh, chiều d i 60 cm (đã qua sử dụng); 01 ổ khóa Vi t Ti p đã bị cắt (đã qua sử dụng) v 01 đôi dép quai ngang có hoa văn m u đen (đã qua sử dụng).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương).

3. Về trách nhi m bồi thường thi t hại:

Bị cáo Lê Minh T có trách nhi m trả cho bị hại b M1 Thi Hồng số tiền 15.000.000 (mười lăm tri u) đồng.

Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật hoặc kể từ ng y có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi h nh án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi h nh án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 4. Về án phí: Bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền v nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ nhận bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ