- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị T và ông Lâm Thế A Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG T NH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST Ngày 12-12-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, T NH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Như
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phước
Ông Đào Khel
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số B phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt)
Bị đơn: Ông Lâm Thế A, sinh năm 1990. Địa chỉ: số B, đường Y, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 4 năm 2023 và lời trình bày của bà Nguyễn Thị T tại phiên tòa:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2014 bà T và ông Lâm Thế A tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban Nhân dân Phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, ngày 10/4/2014.Trong thời kỳ hôn nhân, ông bà chung sống với nhau hạnh phúc, thời gian về sau ông bà quan tâm chăm sóc với nhau, hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được nữa, hạnh phúc không còn nên bà T xin ly hôn. Về con chung: Có một con chung tên Lâm Nguyễn Hoài A1, sinh ngày 08/10/2014. Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
Về hôn nhân: Bà T yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Thế A.
Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lâm Nguyễn Hoài A1, sinh ngày 08/10/2014 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Lâm Thế A cấp dưỡng nuôi con cháu Lâm Nguyễn Hoài A1.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Nguyễn Thị T đã nộp Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai sinh cháu Lâm Nguyễn Hoài A1, sinh ngày 08/10/2014 (bản sao); Căn cước công dân có tên Nguyễn Thị T chứng thực bản sao; Bản sao chứng thực căn cước công dân tên Lâm Thế A
- Quá trình tố tụng bị đơn ông Lâm Thế A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bị đơn ông Lâm Thế A không có ý kiến gì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự: Ông Lâm Thế A không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu mà bà Nguyễn Thị T đã trình bày và giao nộp cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Lâm Thế A và ông Lâm Thế A cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bà Nguyễn Thị T vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ông Lâm Thế A là bị đơn vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ vào điểm a,b Khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị T, ông Lâm Thế A.
Theo các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và tài liệu do bà Nguyễn Thị T cung cấp và ông Lâm Thế A không phản đối căn cứ khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Lâm Thế A xác lập quan hệ vợ chồng phù hợp quy định về điều kiện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng ngày 10/4/2014 nên hôn nhân ông, bà là hợp pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T: Sau thời gian chung sống thì bà T, ông A phát sinh mâu thu n do khác biệt về quan điểm sống, ông bà không còn sống chung với nhau, vợ chồng không quan tâm chăm sóc l n nhau. Đây là sự vi phạm nghĩa vụ vợ chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông A theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung là cháu Lâm Nguyễn Hoài A1, sinh ngày 08/10/2014 có ý kiến nguyện vọng muốn chung sống với mẹ, cháu đang đi học tại Trường tiểu học T1 được bà T chăm sóc nuôi dưỡng học tập tốt. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lâm Nguyễn Hoài A1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; ông Lâm Thế A không trực tiếp nuôi dưỡng con được thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở phù hợp theo quy định tại các Điều 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông Lâm Thế A cấp dưỡng nuôi con đối với cháu L Nguyễn Hoài A1 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95, điểm a, b Khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T:
1.1/. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lâm Thế A.
1.2/. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lâm Nguyễn Hoài A1, sinh ngày 08/10/2014.
Ông Lâm Thế A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc cháu Lâm Nguyễn Hoài A1, sinh ngày 08/10/2014 theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
1.3/. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết.
1.4/. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết.
2/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0007763 ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Bà Nguyễn Thị T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
3/. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án cấp tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Sóc Trăng; - Chi cục THADS TP. Sóc Trăng; - TAND T. Sóc Trăng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Văn Như |