vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Huỳnh Văn N.

Về hôn nhân: cho chị Võ Thị L ly hôn anh Huỳnh Văn N. Về con chung: giao cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09-7-2014 cho chị Võ Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Huỳnh Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Võ Thị L không yêu cầu; anh Huỳnh Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Võ Thị L - Bị đơn anh Huỳnh Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Huỳnh Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-9-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đỗ Huy Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hùng;

2. Ông Cao Hoài Hiêm.

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Thế Sự - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31 tháng 8 và 08 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Võ Thị L, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: ấp TL, xã ĐT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: ấp TS, xã ĐT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp TL, xã ĐT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị L trình bày:

- Về hôn nhân: tôi và anh Huỳnh Văn N là vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT, huyện TB (nay là thị xã TB), tỉnh Tây Ninh ngày 14-02-2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng nhà với cha mẹ anh N tại ấp TL, xã ĐT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng về sau anh N chỉ lo ăn chơi, không phụ giúp kinh tế gia đình, gây nợ bên ngoài để tôi phải trả nợ, tôi có khuyên anh N nhiều lần nhưng anh N không thay đổi.

Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 tới nay, tôi về nhà cha mẹ tôi tại ấp TS, xã ĐT, thị xã TB sống còn anh N vẫn sống cùng nhà với cha mẹ anh N. Từ khi ly thân tới nay vợ chồng không gặp nhau, không nói chuyện với nhau, không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm.

Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh N.

- Về con chung: có 01 con chung là cháu Huỳnh Đăng Kh, sinh ngày 09-7-2014. Từ khi vợ chồng sống ly thân tới nay cháu K do một mình tôi chăm sóc, hiện cháu K đang sống cùng tôi. Cháu K đã được 09 tuổi, mới học xong lớp 3 năm sau lên lớp 4, Trường tiểu học Bời Lời 2. Cháu K được tôi chăm sóc rất tốt, cháu rất vui vẻ, hạnh phúc phát triển tốt về mọi mặt. Hiện tôi làm công nhân, lương mỗi tháng là 7.000.000 đồng. Khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi cháu K, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có, yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Huỳnh Văn N: trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản cần tống đạt cho anh N theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng anh N không có ý kiến và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Theo biên bản xác minh ngày 14-6-2023, ông Nguyễn Văn Đ - Trưởng Ban công tác mặt trận ấp TL, xã ĐT, thị xã TB trình bày: anh N và chị L là vợ chồng, có một con chung là cháu K. Sau khi kết hôn anh N và chị L sống cùng nhà với cha me anh N tại ấp TL, xã ĐT. Do vợ chồng có mâu thuẩn nên từ đầu năm 2022 chị L đem theo cháu K về nhà cha mẹ tại ấp TS, xã ĐT sống còn anh N vẫn sống tại ấp TL, xã ĐT.

Theo biên bản xác minh ngày 14-6-2023, bà Hồ Thị N là mẹ của anh Huỳnh Văn N trình bày: anh N và chị L là vợ chồng có một con chung là cháu K và sống cùng nhà với vợ chồng bà N tại ấp TL, xã ĐT. Do có mâu thuẩn nên từ đầu năm 2022 chị L đem cháu K về sống tại ấp TS, xã ĐT vợ chồng sống ly thân tới nay. Anh N biết chị L nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với mình, anh N đồng ý ly hôn với chị L nhưng do bận đi làm nên anh N không thể tới Tòa án làm việc được.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tống đạt thông báo, văn bản cho đương sự, giao thông báo thụ lý, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, đương sự đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đương sự đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định cho chị L được ly hôn anh N; giao con chung là cháu K cho chị L nuôi, ghi nhận chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không có, không đặt ra giải quyết; chị L phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

Về tố tụng:

Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh N.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Về nội dung:

Về hôn nhân: chị L và anh N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT, huyện TB (nay là thị xã TB), tỉnh Tây Ninh ngày 14-02-2014. Nên hôn nhân giữa chị L và anh N là hợp pháp.

Sau khi kết hôn chị L và anh N sống cùng nhà với cha mẹ anh N tại ấp TL, xã ĐT. Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẩn nên vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 tới nay. Chị L đem theo con bỏ về sống cùng với cha mẹ tại ấp TS, xã ĐT còn anh N vẫn sống tại ấp TL, xã ĐT. Từ khi ly thân tới nay chị L và anh N không gặp nhau, không nói chuyện với nhau và không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm. Anh N biết việc chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với mình nhưng anh N không có ý kiến.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa chị L và anh N không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định trên.

Xét thấy hôn nhân giữa chị L và anh N lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh N.

Về con chung: có 01 con chung là cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09-7-2014. Hiện cháu K mới hơn 09 tuổi, đang sống cùng chị L và cháu K cũng mong muốn được sống cùng chị L. Do đó, để đảm bảo về điều kiện hoàn cảnh và sự phát triển bình thường của cháu K, nên giao cháu K cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.

Về tài sản chung: chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: chị L trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị L là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Huỳnh Văn N.

1. Về hôn nhân: cho chị Võ Thị L ly hôn anh Huỳnh Văn N.

2. Về con chung: giao cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09-7-2014 cho chị Võ Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Huỳnh Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Võ Thị L không yêu cầu; anh Huỳnh Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: chị Võ Thị L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

4. Về nợ chung: chị Võ Thị L trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: chị Võ Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0027141 ngày 05 tháng 4 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

6. Chị Võ Thị L và anh Huỳnh Văn N có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ