vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thúy Thùy N. Bà Phạm Thúy Thùy N được ly hôn với ông Trương Xuân B.

2/. Về con chung: Giao cháu Trương Phạm Nguyên Q, sinh 06/8/2020 cho bà Phạm Thúy Thùy N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thúy Thùy N. Bà Phạm Thúy Thùy N được ly hôn với ông Trương Xuân B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11 – 8 – 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hường

2. Ông Phạm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 11/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 63/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 21/7/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thúy Thùy N, sinh năm 1993. (có mặt)

Địa chỉ: Số A đường N, phường B, Tp. P, Ninh Thuận.

2. Bị đơn: Ông Trương Xuân B, sinh năm 1988. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2023 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thúy Thuỳ N trình bày:

Bà và ông Trương Xuân B chung sống với nhau tự nguyện từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N ngày 31/3/2022. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 07/2022 xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau do bất đồng quan điểm sống, ông B không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, dùng bạo lực với vợ. Khoảng tháng 7/2022 bà có nộp đơn ly hôn ông B tại Tòa án huyện N nhưng sau đó bà rút đơn trở về đoàn tụ để tạo điều kiện cho ông B, nhưng ông B vẫn không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay không quan tâm, thăm hỏi, chăm sóc nhau. Nay tình cảm của bà với ông B không còn, không thể hàn gắn, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.

Về con chung: Vợ chồng có một người con chung là cháu Trương Phạm Nguyên Q, sinh 06/8/2020 hiện đang sống với bà, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông B cấp dưỡng. Hiện bà đang làm nghề kinh doanh, thu nhập trung bình mỗi tháng 10 triệu đồng, đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết bị đơn ông Trương Xuân B vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Nên ông B không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu quan điểm tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ đúng quy định của pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS là có căn cứ.

Về nội dung: Bà Phạm Thúy Thùy N và ông Trương Xuân B chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân từ 02/2023 đến nay, không quan tâm nhau. Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thúy Thùy N. Về con chung: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, bị đơn vắng mặt không có ý kiến về con chung, cháu Quân hiện đang được bà N chăm sóc tốt. Nên giao cháu Quân cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông B không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Phạm Thúy Thùy N khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện N xin ly hôn với ông Trương Xuân B trú tại thôn Đá Trắng, xã P, huyện N và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện N thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đối với bị đơn là ông Trương Xuân B. Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên họp, hòa giải đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông B cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông B theo quy định của pháp luật.

Nội dung khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thúy Thùy N và ông Trương Xuân B chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N ngày 31/3/2022 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau do bất đồng về quan điểm sống. Tháng 7/2022 bà N có khởi kiện xin ly hôn ông B sau đó rút đơn trở về đoàn tụ, nhưng vợ chồng vẫn xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau (được chính quyền địa phương xã P xác nhận). Mặt khác, ông B đã được thông báo và biết được việc khởi kiện cũng như các nội dung yêu cầu của bà N, nhưng ông B vẫn cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày tại Tòa án, từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Chứng tỏ ông B không quan tâm, không muốn hàn gắn lại tình cảm với bà N làm cho hôn nhân vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà N đề nghị được ly hôn với ông B là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Phạm Thúy Thùy N và ông Trương Xuân B có một người con chung là cháu Trương Phạm Nguyên Q, sinh 06/8/2020 hiện đang sống với bà N. Từ khi thụ lý đến khi xét xử, bị đơn vắng mặt không có ý kiến về con chung, cháu Quân đang được bà N chăm sóc tốt. Nên giao cháu Quân cho bà N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông B không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của bà N.

Về án phí: Bà N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thúy Thùy N. Bà Phạm Thúy Thùy N được ly hôn với ông Trương Xuân B.

2/. Về con chung: Giao cháu Trương Phạm Nguyên Q, sinh 06/8/2020 cho bà Phạm Thúy Thùy N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thúy Thùy N phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007399, ngày 24/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N. Bà N đã nộp đủ án phí DSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4/. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/8/2023), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ