- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy L.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24/11/2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang
Ông Lê Văn Qui
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm: 1988 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Bình Th, xã Long B, thị xã M, tỉnh HG
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Bình Th, xã Long B, thị xã M, tỉnh HG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh L1 tự nguyện đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Bình, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 17/7/2017.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ lẫn nhau, ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của gia đình. Chị L và anh L1 đã không còn sống chung khoảng 06 tháng nay. Nhận thấy, đời sống vợ chồng không thể hòa hợp và duy trì được nữa nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh L1.
Về con chung: Chị L và anh L1 có 01 con chung tên Nguyễn Thiên A, giới tính nam, sinh ngày 09/3/2018, hiện đang sống chung với chị L. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn Nguyễn Văn L1 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy L. Chị Nguyễn Thị Thúy L được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L1. Về con chung: Chị L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thiên A, giới tính nam, sinh ngày 09/3/2018. Anh L1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh L1 có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không xem xét. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh L1 tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã Long Mỹ nên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn L1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh L1 tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Bình, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 17/7/2017 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét nguyên nhân yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy L, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị L và anh L1 đã không còn sống chung khoảng 06 tháng nay, mâu thuẫn của anh chị vẫn không thể hàn gắn được, chị L cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh L1. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh L1 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L.
Về con chung: Chị L và anh L1 có 01 con chung tên Nguyễn Thiên A, giới tính nam, sinh ngày 09/3/2018, hiện đang sống chung với chị L. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận định, từ khi hai vợ chồng không còn sống chung, chị L sống chung với con chung. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng.
Chị L chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét; Anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy L.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy L và anh Nguyễn Văn L1 được ly hôn.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thiên A, giới tính nam, sinh ngày 09/3/2018. Anh Nguyễn Văn L1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Văn L1 có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 2/2023/Q1 lập ngày 02 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Chị Nguyễn Thị Thúy L đã nộp xong án phí.
[6] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/11/2023). Bị đơn anh Nguyễn Văn L1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND thị xã Long Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ; - UBND xã Long Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Châu Thanh Quyền |