vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kiều L.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kiều L được ly hôn với anh Võ Văn T. Về con chung: Anh Võ Văn T được tiếp tục nuôi con chung Võ Chí H, sinh ngày 20/7/2013. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kiều L.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13 – 6 – 2023
V/v tranh chấp HNGĐ
Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phượng

2. Ông Phan Quốc Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 168/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Huỳnh Thị Kiều L, năm sinh 1984.

Địa chỉ: Ấp 4, xã M, huyện C, tỉnh Đ.

Bị đơn: Võ Văn T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp 4, xã M, huyện C, tỉnh Đ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm chị Huỳnh Thị Kiều L là nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Võ Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đ ngày 12/9/2005. Trong thời gian chung sống với nhau xảy ra nhiều vấn đề, vợ chồng bất hòa, mâu thuẫn xảy ra thường xuyên nên hôn nhân không còn hạnh phúc. Qua nhiều lần nói chuyện, tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Chị L và anh T, đã không sống chung 03 năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay Chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, hôn nhân không hàn gắn được nên Chị L yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, tên Võ Huỳnh N, sinh ngày 14/12/2003 và Võ Chí H, sinh ngày 20/7/2013. Hiện nay, con chung Võ Chí H đang sống chung anh T. Khi ly hôn, Chị L tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của Võ Chí H, con muốn sống với ai thì người đó nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Võ Huỳnh N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Chị L xác định đồng ý để anh T nuôi con chung Võ Chí H, sinh ngày 20/7/2013, Chị L không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn anh Võ Văn T đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của Chị L nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:

- Giấy chứng nhận kết hôn Võ Văn T – Huỳnh Thị Kiều L, đăng ký ngày 12/9/2005 tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp (Bản chính).

- Giấy khai sinh tên Võ Huỳnh N, sinh ngày 14/12/2003 (Bản sao).

- Giấy khai sinh tên Võ Chí H, sinh ngày 20/7/2013 (Bản sao).

- Căn cước công dân tên Huỳnh Thị Kiều L (Bản photo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Huỳnh Thị Kiều L có đơn yêu cầu được ly hôn, nuôi con với anh Võ Văn T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con”.

Anh Võ Văn T là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Võ Văn T là bị đơn trong vụ kiện nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của Chị L. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Võ Văn T là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T sống chung với nhau vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, do đó hôn nhân giữa Chị L và anh T là hợp pháp.

Theo Chị L trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến thời gian sau, Chị L và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị L và anh T không còn chung sống với nhau cũng như không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.

Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Võ Văn T tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến hay biện pháp nào để hàn gắn tình cảm đối với yêu cầu ly hôn của Chị L. Xét thấy hôn nhân giữa Chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị L yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ để chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa Chị L và anh T là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của Chị L.

- Về con chung: Xét từ khi Chị L, anh T sống xa nhau đến nay, anh T là người trực tiếp nuôi con chung; Bên cạnh đó, tại bản tự khai ngày 27/4/2023, Võ Chí H có nguyện vọng được sống chung với cha là anh T.

Do đó, giao con chung tên Võ Chí H, sinh ngày 20/7/2013 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.

Chị Huỳnh Thị Kiều L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Con chung Võ Huỳnh N đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị L trình bày vợ chồng không có tài sản chung, anh T không có ý kiến về tài sản chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị L trình bày vợ chồng không có nợ chung, anh T không có ý kiến về nợ chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Huỳnh Thị Kiều L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 144 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kiều L.

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kiều L được ly hôn với anh Võ Văn T.

- Về con chung: Anh Võ Văn T được tiếp tục nuôi con chung Võ Chí H, sinh ngày 20/7/2013.

Chị Huỳnh Thị Kiều L không phải cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.

Chị Huỳnh Thị Kiều L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Con chung Võ Huỳnh N đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị Huỳnh Thị Kiều L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000357 ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy tiền án phí đương sự đã nộp xong.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ