vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn anh Lê Tấn K và chị Nguyễn Phạm Như N.

Về hôn nhân: Anh Lê Tấn K được ly hôn với chị Nguyễn Phạm Như N. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Tấn K được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Lê Nguyễn Triều A, sinh ngày 14/10/2015. Chị Nguyễn Phạm Như N không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con chung c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Tuấn K "Ly hôn" Nguyễn Phạm Như N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn anh Lê Tấn K và chị Nguyễn Phạm Như N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN ĐƢỚC
TỈNH LONG AN
Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08/8/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƢỚC, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.

2. Ông Nguyễn Văn Út.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 226/2023/TLST – HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Tấn K, sinh năm: 1985;

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Phạm Như N, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Số E, Ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

(Anh K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, chị N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/4/2023 nguyên đơn anh Lê Tấn K trình bày như sau: Anh K và chị N cưới nhau năm 2015, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 153/2015, quyển số 01, cấp ngày 18/12/2015. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến khoảng năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo anh K trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp với nhau nên thường xuyên cãi vã. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay xét thấy không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị N.

- 2 -

Về con chung: Giữa anh K và chị N có 01 người con chung tên Lê Nguyễn Triều A, sinh ngày 14/10/2015, hiện đang do anh K nuôi dưỡng. Anh K yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có.

Anh K có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Bị đơn chị Nguyễn Phạm Như N đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho chị N biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, nhưng không có ý kiến gì và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Lê Tấn K và chị Nguyễn Phạm Như N có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân xã L, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 153/2015, quyển số 01, cấp ngày 18/12/2015 nên hôn nhân là hợp pháp.

[1.2] Chị Nguyễn Phạm Như N là bị đơn, hiện nay có hộ khẩu thường trú tại xã L, huyện C nên khi anh K có đơn khởi kiện ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. [1.3] Anh Lê Tấn K có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh K.

Bị đơn chị Nguyễn Phạm Như N được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 207, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp: Anh K và chị N chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo anh K trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp nên thường xuyên cãi vã, dù đây chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong đời sống vợ chồng nhưng cả anh K và chị N đều không tìm được biện pháp để khắc phục dẫn đến vợ chồng ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Chị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn không đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa từ đó cho thấy chị N cũng không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với anh K. Do đó, có đủ căn cứ để chứng minh mâu thuẫn giữa anh K và chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Lê Tấn K được ly hôn với chị Nguyễn Phạm Như N.

- 3 -

Về nuôi con chung và cấp dưỡng: Giữa anh K và chị N có 01 người con chung tên Lê Nguyễn Triều A, sinh ngày 14/10/2015, hiện đang do anh K nuôi dưỡng. Cháu A đang sống với anh K đã ổn định và có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống với cha, anh K yêu cầu tiếp tục được nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K về việc yêu cầu nuôi cháu A. Chị N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.Việc thăm nom chăm sóc con được thực hiện theo điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, nhưng anh K không yêu cấu chị N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về chia tài sản chung và nợ chung: anh K trình bày không có nên không xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Lê Tấn K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình để sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147 và khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn anh Lê Tấn K và chị Nguyễn Phạm Như N.

Về hôn nhân: Anh Lê Tấn K được ly hôn với chị Nguyễn Phạm Như N.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Tấn K được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Lê Nguyễn Triều A, sinh ngày 14/10/2015. Chị Nguyễn Phạm Như N không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 84, Điều 85, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

- 4 -

Về án phí: Anh Lê Tấn K phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Được trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000369 ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, anh K đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Toà án niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ