vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chị Lim Thị P được l hôn anh Vi Mạnh L.

Về con chung: Giao ngư i con chung là Vi Vi t L1, sinh ngày 02/5/2018 cho chị Lim Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Vi Mạnh L. Bên không trực tiếp nuôi con có qu ền, nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lim Thị P và anh Vi Mạnh L"
  • Tòa quyết gì? Chị Lim Thị P được l hôn anh Vi Mạnh L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 200 Bộ luật tố tụng d n sự và văn bản hướng dẫn
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 12 - 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hà Văn Hải.

2/ Ông Phan Văn Hưng.

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến - Thư k T a án nh n d n hu n u Châu, tỉnh Ngh An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng V n – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở T a án nh n d n hu n u Châu, tỉnh Ngh An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nh n và gia đình thụ l số: 64/2023/TLST-HNGĐ ngà 24 tháng 10 năm 2023 về vi c “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo qu ết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/ ĐXXST- HNGĐ ngà 08 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lim Thị P, sinh năm: 1992.

Trú tại: Bản ĐT, xã CH, hu n C, tỉnh Ngh An.

Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Vi Mạnh L, sinh năm: 1995.

Trú tại: Bản ĐT, xã CH, hu n C, tỉnh Ngh An.

Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi ki n ngà 17/10/2023 và qua l i khai trong quá trình giải qu ết vụ án, ngu ên đơn là chị Lim Thị P trình bày:

Chị Lim Thị P đăng k kết hôn với anh Vi Mạnh L vào ngày 14/6/2017 tại Ủ ban nhân dân xã CH, hu n C, tỉnh Ngh An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một th i gian, sau đó giữa hai bên bắt đầu nả sinh m u thuẫn, nguyên nhân do anh L thư ng xu ên uống rượu, chửi bới, đánh đập chị P ngoài ra c n sa vào t nạn xã hội sử dụng chất ma tú , nên vợ chồng thư ng xu ên xả ra cãi vã, va chạm, m u thuẫn trong cuộc sống hàng ngày, anh L không có sự quan t m, chăm lo x dựng cuộc sống gia đình dẫn đến hôn nhân không có hạnh phúc, trước đó chị P đã từng gửi đơn yêu cầu Tòa án giải qu ết ly hôn với anh L, sau khi được h a giải và bản th n anh L hứa thay đổi chị đã rút đơn khởi ki n để quay trở lại đoàn tụ, tuy nhiên anh L vẫn không tha đổi, sau khi m u thuẫn giữa vợ chồng lên đến đỉnh điểm, kể từ tháng 5/2023 chị đưa con về nhà bố mẹ đẻ sống l th n với anh L cho đến na , nhận thấ tình cảm giữa vợ chồng không c n để có thể tiếp tục hàn gắn, x dựng hạnh phúc lâu dài nên chị P giữ ngu ên êu cầu đề nghị giải qu ết ly hôn đối với anh Vi Mạnh L.

Về con chung: Trong th i gian chung sống với nhau, giữa chị P và anh L có 01 ngư i con chung là Vi Vi t L1, sinh ngày 02/5/2018. Giải qu ết l hôn chị P đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, không êu cầu anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong đơn khởi ki n ban đầu chị P êu cầu vợ chồng cùng có nghĩa vụ trả khoản nợ chung, vay để x dựng nhà ở với số tiền là 40.000.000đ (bốn mươi tri u đồng) tại Ng n hàng C - Ph ng giao dịch hu n QC, tỉnh Ngh An. Ngà 13/11/2023 chị P đã tự mình trả xong toàn bộ khoản nợ nêu trên, chị không êu cầu anh L phải hoàn trả cho mình số tiền thuộc về phần nghĩa vụ của anh L phải thực hi n đối với Ng n hàng, giữa hai bên không có tranh chấp gì về phần tài sản và nợ chung nên chị Lim Thị P không êu cầu T a án giải qu ết.

- Bị đơn anh Vi Mạnh L trình bày: Giữa anh và chị Lim Thị P đăng k kết hôn với nhau vào ngà 14/6/2017 tại Ủ ban nh n d n xã CH, hu n C, tỉnh Ngh An trên cơ sở tự ngu n. Theo anh L sau khi kết hôn vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc, tu nhiên trong cuộc sống chung hàng ngày giữa vợ chồng sẽ không tránh khỏi những m u thuẫn, va chạm nhau, bản th n anh L thấ rằng m u thuẫn giữa hai vợ chồng không lớn, anh vẫn c n tình cảm với chị P nên mong muốn vợ chồng quay trở lại đoàn tụ, tiếp tục chung sống để nuôi con. Do đó, anh không đồng l hôn theo êu cầu khởi ki n của chị P.

Anh L và chị P có một ngư i con chung là Vi Vi t L1, sinh ngày 02/5/2018. Ý kiến của anh L đối với con chung, nếu như chị P kiên qu ết giữ ngu ên kiến đề nghị giải qu ết l hôn thì anh êu cầu giao con chung cho anh được qu ền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không êu cầu chị P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Đối với phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, giữa hai bên không có tranh chấp gì về phần tài sản và nợ chung nên anh L có kiến không êu cầu T a án giải qu ết.

- kiến của đại di n Vi n kiểm sát nh n d n hu n u Ch u tại phiên t a:

ua kiểm sát giải qu ết vụ án từ khi thụ l vụ án cho đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên t a thấ rằng: Trong quá trình giải qu ết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư k đã chấp hành đúng qu định của Bộ luật Tố tụng d n sự, vi c tiến hành thủ tục tố tụng tại phiên t a tuân thủ đúng qu định của Bộ luật tố tụng d n sự. Ngu ên đơn và bị đơn có mặt tham gia giải qu ết vụ vi c theo giấ tri u tập, tu n thủ đúng qu ền và nghĩa vụ của các bên theo qu định của Bộ luật Tố tụng d n sự, trước khi phiên t a được đưa ra xét xử các bên đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó vi c xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo qu định.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nh n và gia đình; Điều 28; 35; 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị qu ết 326/2016/UBTV H14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thư ng vụ uốc Hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án, để xét xử:

Về quan h hôn nhân, chấp nhận đơn khởi ki n của ngu ên đơn, cho chị Lim Thị P được l hôn với anh Vi Mạnh L.

Giao ngư i con chung là Vi Vi t L1, sinh ngày 02/5/2018 cho chị Lim Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Vi Mạnh L, bên không trực tiếp nuôi con có qu ền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp.

uá trình giải qu ết vụ án các đương sự đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ng n hàng chính sách xã hội Vi t Nam – Ph ng giao dịch hu n u Ch u, do đó đề nghị không tiếp tục đưa Ngân hàng vào tiếp tục tham gia tố tụng trong vụ án. Các đương sự có kiến không êu cầu T a án giải qu ết về phần tài sản chung và nợ chung, nên đề nghị không xem xét giải qu ết.

Buộc ngu ên đơn phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm theo qu định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Lim Thị P êu cầu Tòa án giải qu ết ly hôn đối với anh Vi Mạnh L, đề nghị giao ngư i con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, không êu cầu Tòa án giải qu ết đối với phần tài sản chung của vợ chồng. Theo qu định tại khoản 1 Điều 51 luật Hôn nh n và gia đình và khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng d n sự, quan h pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Bị đơn anh Vi Mạnh L có nơi đăng k thư ng trú và chỗ ở tại bản Đ, xã CH, hu n C, tỉnh Ngh An, nên vụ án thuộc thẩm qu ền giải qu ết của Tòa án nh n d n hu n C, tỉnh Ngh An theo qu định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng d n sự.

Trong th i gian giải qu ết vụ án, bị đơn anh Vi Mạnh L có “Đơn phản tố” đề ngà 22/11/2023 nêu hai êu cầu cụ thể như sau:

+ Không chấp nhận êu cầu l hôn của ngu ên đơn là chị Vi Thị P.

+ Nếu chấp nhận cho chị P được l hôn với anh L thì đề nghị giao con chung cho anh L được qu ền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Căn cứ vào qu định tại Điều 200 Bộ luật tố tụng d n sự và văn bản hướng dẫn, những êu cầu trình bày trong “Đơn phản tố” nêu trên được xem là kiến phản bác của bị đơn đối với những êu cầu khởi ki n của ngu ên đơn, không phải là êu cầu phản tố theo qu định, những kiến trình bà của bị đơn trong quá trình giải qu ết vụ án đã được ghi nhận đầ đủ trong biên bản làm vi c, lấ l i khai trước đó. Do đó T a án không tiến hành thông báo êu cầu nộp tiền tạm ứng án phí và thụ l theo êu cầu phản tố là đúng qu định.

Theo nội dung đơn khởi ki n ban đầu, chị P êu cầu anh L có nghĩa vụ cùng trả khoản nợ chung, vay tại Ngân hàng C - Ph ng giao dịch hu n C, tỉnh Ngh An, mục đích x dựng nhà ở với số tiền là 40.000.000đ (bốn mươi tri u đồng). Sau khi nhận được thông báo thụ l vụ án, ngày 02/11/2023 Ngân hàng C - Ph ng giao dịch hu n C có công văn số 88/CV-NH đề nghị Tòa án sau khi giải qu ết l hôn cần giao khoản nợ cho chị P là chủ đại di n hộ gia đình va vốn có nghĩa vụ trả nợ và lãi suất theo qu định cho Ngân hàng, tuy nhiên trong th i gian vụ án đang được tiến hành giải qu ết, ngày 13/11/2023 ngu ên đơn chị P đã thực hi n xong nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ nêu trên. Ngày 16/11/2023 Ngân hàng gửi công văn số 94/CV-NH xác nhận hộ gia đình chị P và anh L đã trả xong toàn bộ nợ và lãi suất va vào ngà 13/11/2023 không c n khoản nợ nào tại Ng n hàng, do đó đề nghị đưa Ng n hàng C - Phòng giao dịch hu n QC, tỉnh Ngh An ra khỏi bên có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Xét thấ các đương sự đã thực hi n xong nghĩa vụ của mình, qu ền lợi của Ng n hàng đã được đảm bảo không c n êu cầu gì, do đó không tiếp tục đưa Ng n hàng C tiếp tục vào tham gia tố tụng trong vụ án là đúng qu định.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi vụ án được đưa ra xét xử ngu ên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên t a, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng d n sự, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên t a theo qu định.

Về quan h hôn nhân: Chị Lim Thị P và anh Vi Mạnh L đăng k kết hôn với nhau vào ngà 14/6/2017 tại Ủ ban nh n d n xã CH, hu n C, tỉnh Ngh An. Hôn nh n giữa hai bên hoàn toàn tự ngu n, đảm bảo về điều ki n kết hôn và đăng ký đúng thủ tục qu định của pháp luật, nên quan h hôn nhân giữa hai bên hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một th i gian, sau đó bắt đầu nả sinh m u thuẫn, ngu ên nh n do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, cuộc sống chung không có hạnh phúc, dẫn đến ly thân kể từ tháng 5/2023 không thể hàn gắn. Quá trình giải qu ết vụ án anh L cho rằng giữa vợ chồng không có m u thuẫn gì lớn, xác định vẫn c n tình cảm với chị P nên mong muốn vợ chồng cùng hàn gắn đoàn tụ để nuôi con. kiến của ngu ên đơn là chị Lim Thị P trình bày, trước đ đã từng cho anh L cơ hội để thay đổi bản th n nhưng anh L không tự mình nhận ra lỗi của bản th n để sửa đổi theo hướng tích cực, trong th i gian ly thân hai bên không còn sự quan t m ha nỗ lực để hàn gắn tình cảm, quá trình giải qu ết vụ án cũng như tại phiên t a ngu ên đơn kiên qu ết giữ ngu ên kiến đề nghị được xem xét giải qu ết l hôn. Xét thấ , hôn nh n giữa hai bên không còn hạnh phúc, vi phạm nghiêm trọng qu ền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nh n l m vào tình trạng trầm trọng, đ i sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nh n không đạt được, do đó cần chấp nhận êu cầu giải qu ết l hôn của chị Lim Thị P đối với anh Vi Mạnh L.

Về con chung: Vợ chồng có một ngư i con chung là Vi Vi t L1, sinh ngày 02/5/2018, quá trình giải qu ết vụ án ngu ên đơn chị Phượng đề nghị giao con chung cho chị qu ền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không êu cầu anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, bị đơn anh Vi Mạnh L không đồng giao con chung cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh L có kiến nếu chấp nhận êu cầu giải qu ết ly hôn của chị P thì đề nghị giao con chung cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không êu cầu chị P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L. Xét thấ rằng, vi c xem xét giao nuôi con chung chưa thành niên sau khi vợ chồng l hôn cần đảm bảo điều ki n môi trư ng sinh sống, học tập và qu ền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con chung sau này, không làm ảnh hưởng nhiều đến tâm sinh lý của trẻ đang trong độ tuổi phát triển cần sự quan tâm, chăm sóc, êu thương và bảo v của ngư i th n, trên thực tế sau khi vợ chồng sống l th n con chung ở cùng chị P, chủ ếu do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tại th i điểm giải qu ết l hôn con chung chưa đủ 07 tuổi nên cần có sự chăm sóc, gần gũi về mặt t m lý, tạo sự gần gũi về mặt tình cảm gia đình, phù hợp với ngu n vọng của con, mà chị P là ngư i thư ng xuyên trực tiếp gần gũi, chăm sóc con chung, ngoài ra chị P đảm bảo về nơi ở ổn định, sức khỏe lao động và thu nhập ổn định để chăm sóc, nuôi con chung sau này, ngoài ra c n có sự hỗ trợ của gia đình trong vi c chăm sóc con. Để không làm xáo trộn nơi ở, môi trư ng sinh sống, học tập hi n tại của con chung chưa thành niên, xét thấ nên cần tiếp tục giao con chung cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Vi Mạnh L là phù hợp.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có l do chính đáng hoặc có căn cứ theo qu định của pháp luật, theo êu cầu của một hoặc các bên thì T a án có thể qu ết định về vi c tha đổi ngư i trực tiếp nuôi con và êu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo qu định.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lim Thị P không êu cầu anh Vi Mạnh L hoàn trả lại số tiền thuộc nghĩa vụ, kỹ phần nợ vay anh L phải trả cho Ngân hàng mà chị P trả thay tại Ngân hàng C - Phòng giao dịch hu n C, tỉnh Ngh An. Các bên có kiến trình bày không còn tranh chấp gì đối với phần tài sản và nợ chung nên không êu cầu Toà án giải qu ết, xét thấ êu cầu của các đương sự không nhằm trốn tránh thực hi n nghĩa vụ với bên thứ ba ha thực hi n nghĩa vụ với Nhà nước nên Hội đồng xét xử không xem xét giải qu ết thêm. Đối với tài sản chung của vợ chồng chưa giải qu ết (nếu có) mà xả ra tranh chấp về sau nà , các bên có qu ền khởi ki n êu cầu giải qu ết bằng một vụ án khác theo qu định của pháp luật.

Về án phí: Ngu ên đơn chịu án phí d n sự sơ thẩm theo qu định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nh n và Gia đình; khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị qu ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban thư ng vụ uốc Hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án. Chấp nhận đơn khởi ki n của chị Lim Thị P, xử:

1. Chị Lim Thị P được l hôn anh Vi Mạnh L.

2. Về con chung: Giao ngư i con chung là Vi Vi t L1, sinh ngày 02/5/2018 cho chị Lim Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Vi Mạnh L.

Bên không trực tiếp nuôi con có qu ền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lim Thị P chịu án phí d n sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, l phí t a án số: 0006567 ngày 24/10/2023 tại Chi cục thi hành án d n sự hu n u Ch u, tỉnh Ngh An.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt ngu ên đơn và bị đơn. Ngu ên đơn và bị đơn có qu ền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngà kể từ ngà nhận được bản án hoặc bản án được niêm ết hợp l ./.

Cỡ chữ