- Tranh chấp gì? án hình sự — "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80 /2022/HSST Ngày 18/5/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hưng;
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thu; Ông Trần Quang Lưu;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Cương -Thư T ND huy n Ti n Du;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát vi n.
Ngày 18 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Ti n Du xét xử
sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 78/2022/TLST-HS ngày 08/4/2022 theo Qết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2022/QĐXXST-HS ngày 04/5/2022 đối với bị cáo:
Họ và t n: Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1991;
iới t nh: Nam;
HKTT: Thôn L, xã TP, huy n Ti n Du, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghi p: Lao
động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Nguyễn Chân Trọng, sinh năm 1959 (đã chết); con bà Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1962; ia đình có 02 chị em bị cáo là con thứ 02;
Tiền sự: Không
Tiền án: Tại bản án số 41/HSST ngày 25/12/2015 Tòa án nhân dân thành
phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 10 tháng tù tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. (bị cáo chưa nộp hoản tiền truy thu)
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/12/2022 đến nay. Hi n đang tạm giam tại
Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại:
1/Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1994; HKTT:Thôn Thịnh H, xã QT, TP
Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt).
2/ nh Vũ Viết T, sinh năm 1991; HKTT:Thôn Đồng Cổ, xã XT, huy n Thọ
Xuân, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt).
3/ nh Đỗ Ngọc H, sinh năm 1990; HKTT:Thôn Vụ Bản, xã XD, huy n TX,
tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt).
4/ nh Bùi Văn M, sinh năm 1997; HKTT:Thôn Hưng Long, xã Ngọc Phụng
, huy n Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt).
5/Chị Hoàng Kim Q, sinh năm 1994; HKTT Khu phố Tỉu, TT LC, huy n LC, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI D V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án
được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Ch có quen biết xã hội với chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1994 có HKTT tại thôn Thịnh H, xã QT, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đang thuê trọ tại TP. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Anh Nguyễn Văn Nhân, sinh năm 1993 có HKTT tại thôn Mo Nghè 2, xã Quang Huy, huy n Phù Yên, tỉnh Sơn La đang thu trọ tại thôn L, xã TP, huy n Tiên Du gần nhà Ch và là bạn của chị D, có quen biết Ch.
Khoảng 13 giờ ngày 09/12/2021, anh Nhân rủ Ch cùng chị D và anh Vương Văn Sông, sinh năm 1999 qu ở xã Bạch Hà, huy n Yên Bình, tỉnh Y n Bái đến phòng trọ của anh ăn cơm uống rượu. Mọi người ăn uống đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì ngồi chơi, nói chuy n. Khi này, Ch muốn chơi đi n tử nhưng hông có đi n thoại di động n n đã hỏi mượn đi n thoại của chị D. Chị D đồng ý và lấy chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Xiaomi Redmi Note 7 màu đen, có ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt, sau ốp lưng có 480.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Vi t Nam và 01 thẻ ATM ở dưới chiếu mở hóa màn hình đi n thoại rồi đưa cho Ch mượn. Khi cầm đi n thoại di động của chị D, Ch nhìn thấy sau ốp lưng đi n thoại có tiền và đã sử dụng đi n thoại của chị D chơi đi n tử. Quá trình chơi, do cần có mật khẩu để tải trò chơi về máy, Ch hỏi chị D thì chị D đọc mật khẩu đăng nhập là “090994”. Ch đã mở được ứng dụng tải game rồi tiếp tục sử dụng đi n thoại của chị D chơi đi n tử cùng với anh Sông. Khoảng 18 giờ cùng ngày, do hết tiền trong game, Ch rủ Sông đi mua thẻ đi n thoại ở quán tạp hóa gần khu trọ. Khi đi, Ch vẫn cầm chiếc đi n thoại mượn của chị D và đăng nhập vào tài khoản Zalo “Nguyễn Ch”. Lúc này, Ch nhận được tin nhắn Zalo của Đặng Công Tuyền, sinh năm 1990 có HKTT tại thôn Cao Đình, xã TP, huy n Tiên Du (là bạn của Ch) rủ đến quán Interrnet gần đó chơi đi n tử. Ch bảo Sông về trước còn Ch đi bộ đến quán Internet chơi cùng Tuyền. Khi đến quán, đi n thoại di động của chị D hết pin bị tắt nguồn nên Ch đã mượn sạc của quán để sạc. Ch và Tuyền ngồi chơi đi n tử tại quán đến khoảng 9 giờ ngày 10/12/2021, do thiếu tiền chi tiêu và hông có đi n thoại sử dụng nên Ch đã nảy sinh định chiếm chiếc đi n thoại trên cùng số tiền có trong ốp lưng của chị D.
Lúc này, Ch đã rủ Tuyền đến thôn Dương Húc, xã Đại Đồng thuê nhà nghỉ ngủ mà không quay lại phòng của anh Nhân. Tại nhà nghỉ, đến 15 giờ ngày 10/12/2021, Ch mở nguồn đi n thoại di động của chị D lên thì thấy có nhiều tin nhắn trong Messenger của tài khoản Faceboo “Cúnn Cúnn” của chị D. Đồng thời Ch thấy tài khoản ví momo của chị D để chế độ đăng nhập mặc định và có liên kết với tài khoản ngân hàng Vietcombank số tài khoản 0781000489122 mang tên chị D. Ch kiểm tra thấy trong tài khoản ngân hàng của chị D có số tiền 48.179 đồng n n đã thực hi n giao dịch chuyển số tiền 48.000 đồng từ tài khoản ngân hàng vào ví momo của chị D rồi từ ví momo nạp số tiền này vào tài khoản game mang t n “Vũ Thị Ánh và Ví Thần Tài”. Sau khi nạp hết tiền, Ch liền nảy sinh định giả danh chị D nhắn tin vay tiền của bạn bè trong Facebook của chị D để họ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng trên của chị D rồi Ch sẽ chiếm đoạt số tiền đó. Ch vào ứng dụng tin nhắn Messenger của Facebook “Cúnn Cúnn” có đặt chế độ đăng nhập mặc định nhắn tin cho một số bạn bè của chị D hỏi vay tiền và đồng thời Ch gửi số tài khoản ngân hàng Vietcombank mang tên chị D là 0781000489122 cho bạn bè của chị D bảo mọi người gửi vào.
Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Ch dùng Facebook của chị D nhắn tin vào Faceboo “Vũ Viết T” của anh Vũ Viết T, sinh năm 1991 có HKTT tại thôn Đồng Cỗ, xã Xuân Thiên, huy n Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đặt vấn đề vay số tiền 800.000 đồng và nói chuyển vào số tài khoản 0781000489122 ngân hàng Vietcombank mang tên chị D. Do tin tưởng đó là chị D, anh T đã đồng ý cho vay 200.000 đồng và đã chuyển tiền vào số tài khoản trên.
Hồi 19 giờ 50 phút cùng ngày, Ch đã giả danh chị D nhắn tin vào Facebook của chị Hoàng Kim Q, sinh năm 1994 có HKTT tại khu phố Tỉu, thị trấn Lang Chánh, huy n Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa hỏi vay số tiền 2.300.000 đồng. Do tin tưởng đó là chị D, chị Q đã nhờ anh Nguyễn Văn Lợi, sinh năm 1997 có HKTT tại thôn Roi Sóc, xã Phù Chẩn, TP. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh chuyển khoản số tiền 2.300.000 đồng vào tài khoản 0781000489122, sau đó chị Q đã trả tiền mặt cho anh Lợi. Với thủ đoạn tương tự nêu trên, hồi 01 giờ ngày 11/12/2021, Ch đã chiếm đoạt của anh Đỗ Ngọc H, sinh năm 1990 có HKTT tại thôn Vụ Bản, xã Xuân Dương, huy n Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa số tiền 3.000.000 đồng. Hồi 7 giờ 15 phút cùng ngày, Ch đã chiếm đoạt của anh Bùi Văn M, sinh năm 1997 có HKTT tại thôn Hưng Long, xã Ngọc Phụng, huy n Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa số tiền 1.000.000 đồng.
Sau khi mọi người chuyển tiền vào tài khoản trên, Ch mở ứng dụng ví Momo của chị D nạp tiền vào ví momo từ tài khoản Ngân hàng Vietcombank của chị D liên kết với ví momo với tổng số tiền là 6.500.000 đồng rồi từ ví momo trên Ch chuyển tiền vào các tài khoản game có t n: Vũ Thị Ánh, L Văn Thi n, Trần Quang Khải, Phạm Quang Minh, Túi Thần Tài, Sú Phón Ki để chơi game. Đồng thời, Ch đã chuyển một phần tiền chiếm đoạt được là 4.999.000 đồng vào tài khoản ngân hàng TMCP quân đội MBBank có số 5586618121991 mang tên Nguyễn Văn Ch rồi Ch đã rút hết số tiền này ra chi tiêu cá nhân hết. Còn chiếc đi n thoại di động của chị D, Ch đã tháo chiếc simcard của chị D ném đi và lắp simcard khác vào sử dụng liên lạc.
Trong thời gian này, chị D đã mượn đi n thoại của anh Nhân nhiều lần liên lạc yêu cầu Ch trả lại đi n thoại di động nhưng Ch nói dối là bị công an bắt giữ và thu đi n thoại nên không trả được. Sau khi ở nhà nghỉ cùng Tuyền, đến khoảng 19 giờ ngày 10/12/2021, Ch đã một mình bỏ trốn đến huy n Tân Yên, tỉnh Bắc iang để chị D hông tìm được. Quá trình Ch chiếm đoạt đi n thoại của chị D, chị D đã sử dụng máy vi t nh đăng nhập vào tài khoản facebook của mình thấy có tin nhắn mà Ch đã nhắn cho bạn bè để chiếm đoạt tiền nên chị đã li n lạc thông báo với mọi người.
Ngày 19/12/2021, chị Ch, chị Q, anh H, anh M đã đến Cơ quan Công an huy n Tiên Du trình báo. Ngày 28/12/2021, anh T đã đến cơ quan CSĐT trình báo. Cơ quan CSĐT đã tiến hành kiểm tra đi n thoại di động của chị Q, anh H, anh M và anh T có nội D Ch sử dụng Faceboo “Cúnn Cúnn” của chị D nhắn tin chiếm đoạt tiền của các anh chị. Cơ quan CSĐT đã tiến hành thu thập sao kê tài khoản của anh Nguyễn Tiến Lợi (là người được chị Q nhờ chuyển tiền), anh H, anh M và anh T tại ngân hàng xác định đã có các giao dịch chuyển tiền từ tài khoản của các anh vào tài khoản ngân hàng Vietcombank của chị D với số tiền như đã n u tr n.
Ngày 20/12/2021 cơ quan điều tra đã tri u tập Ch đến làm vi c. Quá trình làm vi c, Ch đã hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tự nguy n giao nộp
+ 01 chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Xiaomi Redmi Note 7 màu đen, có ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt. Đây là chiếc đi n thoại di động mà Ch đã chiếm đoạt của chị D.
+ 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Thị D có số tài khoản 0781000489122.
Cơ quan CSĐT đã tiến hành kiểm tra đi n thoại di động Ch giao nộp và xác định trong đi n thoại có ứng dụng Faceboo “Cúnn Cúnn” và có các tin nhắn Ch đã giả danh chị D nhắn cho chị Q, anh H, anh M và anh T lừa đảo chiếm đoạt tiền. Đồng thời, trong đi n thoại có ứng dụng ví momo của chị D có các giao dịch chuyển tiền đến và chuyển tiền đi từ ngày 10/12/2021 đến ngày 13/12/2021 do Ch thực hi n.
Ngày 19/12/2021, cơ quan CSĐT đã tiến hành sao kê tài khoản 0781000489122 của chị D tại ngân hàng Vietcomban xác định có các giao dịch chuyển tiền từ tài khoản của anh Nguyễn Tiến Lợi (do chị Q nhờ chuyển), anh H, anh M và anh T vào tài khoản của chị D với số tiền nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá số 05 ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huy n Ti n Du đã ết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 7 màu đen đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 3.700.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã xác minh số tài khoản của Nguyễn Văn Ch tại ngân hàng TMCP quân đội MBBank chi nhánh Bắc Ninh và sao kê toàn bộ lịch sử giao dịch của số tài khoản này xác định ngày 10/12 và ngày 11/12/2021 có giao dịch chuyển tiền từ ví Momo vào tài khoản này với tổng số tiền là 4.999.000 đồng. Toàn bộ lịch sử giao dịch đều phù hợp với thời gian mà Ch đã thực hi n vi c chiếm đoạt tiền của chị Q, anh H, anh M và anh T.
* Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự:
Ngày 13/02/2022, Cơ quan CSĐT đã trả lại 01 chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Xiaomi Redmi Note 7 màu đen, có ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt cùng với 01 chiếc thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Thị D mà Ch đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị D ngày 21/12/2021. Chị D đã nhận đủ tài sản trên và yêu cầu Ch phải bồi thường cho chị số tiền đã chiếm đoạt là 480.000 đồng. Đối với số tiền 48.000 đồng mà Ch đã chuyển từ tài khoản ngân hàng Vietcombank của chị D sang ví momo rồi nạp vào tài khoản game, do số tiền hông đáng ể nên chị D không có yêu cầu gì về trách nhi m dân sự. Chị Hoàng Kim Q, anh Vũ Văn T, anh Đỗ Ngọc H và anh Bùi Văn M đề nghị bị can Nguyễn Văn Ch phải trả lại cho các anh chị số tiền mà Ch đã chiếm đoạt.
Với nội D tr n, Cáo trạng số 40/CT – VKS- TD ngày 07/4/2022 của Vi n iểm sát nhân dân huy n Ti n Du truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Lạm dụng t n nhi m chiếm đoạt tài sản” Q định tại điểm a, hoản 1, Điều 175 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Q định tại hoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi sau hi mượn được chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Xiaomi Redmi Note 7 màu đen, có ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt trong đó có số tiền 480.000đồng của chị D và 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Thị D có số tài khoản 0781000489122. Bị cáo đã nẩy sinh định chiếm đoạt tiền của chị D và dùng chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Xiaomi Redmi Note 7 màu đen của chị D để chiếm đoạt tiền của bạn của chị D là chị Q, anh H, anh M và anh T. Vi n kiểm sát truy tố bị cáo tội “Lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng, hông oan.
Tại phi n tòa đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra chứng cứ, lý lẽ và sau hi phân t ch, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết li n quan đến trách nhi m hình sự của bị cáo, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tiên Du đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 175; khoản 1, Điều 174, Điều 38; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 55; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Điều 584, 585 và 589 BLDS.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù tội “Lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là từ 18 tháng đến 22 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giam 21/12/2022.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đã được giải Qết.
Về trách nhi m dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Vũ Viết T số tiền là 200.000đồng; anh Đỗ Ngọc H số tiền là 3.000.000đồng; anh Bùi Văn M số tiền là 1.000.000đồng; chị Hoàng Kim Q số tiền là 2.300.000đồng
Tại Tòa án chị Nguyễn Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị vì vậy hông đặt ra giải Qết trong vụ án này.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại di n Vi n Kiểm sát, khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài li u đã được thẩm tra tại phi n tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phi n tòa, tr n cơ sở xem xét đầy đủ, toàn di n ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghi m hi n trường, biên bản định giá tài sản và tài li u có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ căn cứ khẳng định, ngày 09/12/2021 bị cáo Nguyễn Văn Ch sau hi mượn được đi n thoại sau ốp lưng có số tiền 480.000đồng của chị D và 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Thị D có số tài khoản 0781000489122, đến ngày 10/12/2021 do không có tiền tiêu bị cáo đã nẩy sinh định chiếm tiền và chiếc đi n thoại của chị D số tiền bị cáo chiếm đoạt là 4.180.000đồng, hành vi này đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản” Sau đó bị cáo đã dùng đi n thoại của chị D bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản bạn của bạn chị D là chị Q, anh H, anh M và anh T số tiền chiếm đoạt là 6.500.000đồng, hành vi này đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo theo điểm điểm a, khoản 1, Điều 175 BLHS và khoản 1, Điều 174 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và nhân thân của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến Qền bất khả xâm phạm về tài sản của công dân mà còn làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang nghi ngờ lẫn nhau, hành vi của bị cáo không phải là bột phát, nhất thời phạm tội, bản thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án, do vậy lần phạm tội này là tái phạm theo điểm h, khoản 1, Điều 52 BLHS. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội để giáo dục riêng và phòng ngừa Ch. Song quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn hai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự Q định tại điểm s khoản 1, Điều 51BLHS.
Vật chứng vụ án: Chị D đã nhận lại được đi n thoại và phần dân sự không yêu cầu giải Qết, nên không giải Qết ở vụ án này.
Về trách nhi m dân sự: Anh Vũ Viết T, anh Đỗ Ngọc H, anh Bùi Văn M, chị
Hoàng Kim Q, yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt cho các anh chị, xét yêu cầu là đúng pháp luật vì vậy cần buộc bị cáo Ch phải có trách nhi m trả lại cho anh Vũ Viết T số tiền là 200.000đồng; anh Đỗ Ngọc H số tiền là 3.000.000đồng; anh Bùi Văn M số tiền là 1.000.000đồng; chị Hoàng Kim Q số tiền là 2.300.000đồng.
* Về những tình tiết khác liên quan: Đối với anh Đặng Công Tuyền là người đã ở cùng Ch thời điểm Ch chiếm đoạt chiếc đi n thoại di động của chị D: quá trình điều tra xác định anh Tuyền không biết Ch đã chiếm đoạt chiếc đi n thoại của chị D và không biết Ch đã sử dụng chiếc đi n thoại này để lừa đảo chiếm đoạt tài sản n n cơ quan CSĐT hông xem xét xử l đối với anh Tuyền là phù hợp.
Đối với anh Vương Văn Sông là người đi cùng Ch khi Ch đang cầm đi n thoại di động của chị D: anh Sông hông biết Ch chiếm đoạt tài sản của chị D nên cơ quan CSĐT hông xử l anh Sông là phù hợp.
Đối với hành vi Ch đã chuyển số tiền 48.000 đồng từ tài khoản Vietcombank của chị D vào tài khoản ví Momo của chị D rồi nạp vào tài khoản game, quá trình điều tra chưa làm rõ được tài khoản nào n n chưa đủ căn cứ chứng minh Ch đã chiếm đoạt số tiền này của chị D. Do đó, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo không có nghề nghi p ổn định, không có tài sản gì.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo Q định của pháp luật;
Vì các lẽ trên:
QẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 175; khoản 1, Điều 174, Điều 38; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 55; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 48 BLHS; Điều 329; 135; 136 BLTTHS; Điều 584, 585 và 589 BLDS.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch 08 (Tám) tháng tù tội “Lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản” . 12 (Mười hai) tháng tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2021.
Tạm giam bị cáo 45 ngày, ể từ ngày tuy n án để đảm bảo thi hành án.
Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ch phải trả lại khoản tiền cho anh Vũ
Viết T số tiền là 200.000đồng; anh Đỗ Ngọc H số tiền là 3.000.000đồng; anh Bùi Văn M số tiền là 1.000.000đồng; chị Hoàng Kim Q số tiền là 2.300.000đồng.
Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật, người được thi hành án có đơn y u cầu mà người phải thi hành án chậm thực hi n nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các b n nhưng hông được vượt quá lãi suất được Q định tại khoản 1 Điều 468 của bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hi n theo Q định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Trường hợp bản án, Qết định được thi hành theo Q định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Qền thoả thuận thi hành án, Qền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Q định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo Q định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí HSST và 325.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có Qền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có Qền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận; - TAND tỉnh Bắc Ninh; -VKSND tỉnh Bắc Ninh - VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Hƣng |