- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2022/HS-ST Ngày: 24-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Kiên Hiển
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
DƯƠNG HOÀNG P, sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 651/14 Đường Đ, Phường V, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Minh Đ và bà Huỳnh Thị Bích L; chưa có vợ, con Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/8/2022
(Bị cáo có mặt)
- Bị hại: Bà Trần Thị Kiều L, sinh năm 1975
Địa chỉ: 101 Đường LT, Phường 1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 19/02/2022, bị cáo Dương Hoàng P đi đến hẻm 101
Đường LT, Phường 1, Quận 3 nhìn thấy mẹ ruột là bà Huỳnh Thị Bích L đang ngồi nói chuyện với nhiều người, trong đó có bà Trần Thị Kiều L nên bực tức, to tiếng và xảy ra cự cãi với bà L. Khi đang đứng cách bà L khoảng 05 mét thì bị cáo P dùng tay phải cầm 02 cái ghế nhựa màu đỏ, kích thước 27x22cm (đang xếp chồng lên nhau) ném trúng mặt bà L gây thương tích rồi bỏ đi. Bà L đến bệnh viện Nguyễn Tri Phương khám vết thương, sau đó đến Công an Phường 1, Quận 3 trình báo vụ việc. Công an Phường 1 lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 giải quyết. Tại Cơ quan điều tra, Dương Hoàng P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 336/TgT.22 ngày
06/5/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh Kết luận: Bà Trần Thị Kiều L bị đa chấn thương phần mềm đã được điều trị, hiện: Không còn sưng nề mi mắt phải, thị lực mắt phải bình thường; còn 01 vết tăng sắc tố vùng sống mũi lệch phải kích thước 0,6x0,1cm, tình trạng ổn định. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02%.
Tại Kết luận giám định số 3578/KL -KTHS ngày 01/7/2022 của Phân viện
Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận chiếc ghế nhựa vật chứng thu giữ trong vụ án (hung khí mà bị cáo đã sử dụng) nếu sử dụng để tác động lên cơ thể người gây thương tích thì đó là hung khí nguy hiểm.
Qúa trình giải quyết vụ án, bị hại bà Trần Thị Kiều L vẫn giữ nguyên yêu
cầu xử lý hình sự đối với bị cáo và yêu cầu bồi thường chi phí thuốc men điều trị số tiền là 6.442.000 đồng và bồi thường về thiệt hại tinh thần số tiền là 10.000.000 đồng; Tổng số tiền yêu cầu bị cáo bồi thường là 16.442.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS-Q3 ngày 31 tháng 10 năm 2022 Viện
kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Dương Hoàng P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Dương Hoàng P có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra
và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người đúng tội. Về trách nhiệm dân sự bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại bà Trần Thị Kiều L tổng số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) đúng như bị hại đã yêu cầu; Bao gồm chi phí điều trị, tiền thuốc và chi phí giám định mà bà L đã phải chi trả là 6.442.000 đồng và tiền bồi thường bù đắp về tổn thất về tinh thần do hành vi của bị cáo gây nên là 3.558.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) còn lại bị cáo xin được đi làm trả nợ.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo để có cơ hội làm lại cuộc đời.
Bị hại bà Trần Thị Kiều L xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu xử lý hình sự
đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự bà đồng ý chỉ yêu cầu bồi thường tổng cộng 11.000.000 đồng như bị cáo đã trình bày, bà xác định đã được bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng; số tiền 6.000.000 đồng còn lại bà đồng ý để bị cáo đi làm có tiền trả nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như
Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Dương Hoàng P từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại tự nguyện thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra
viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất phù hợp với lời
khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 19/02/2022, tại hẻm 101 Đường LT, Phường 1, Quận 3 bị cáo P
đã sử dụng 02 cái ghế nhựa có kích thước 27x22cm được xếp chồng lên nhau (là hung khí nguy hiểm theo Kết luận giám định số 3578/KL -KTHS ngày 01/7/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh) tấn công vào vùng mặt của bà Trần Thị Kiều L gây thương tích với tỉ lệ 02% và bà Trần Thị Kiều L đã làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.
Với hành vi như đã nêu trên, xác định Cáo trạng số 82/CT-VKS-Q3 ngày
31 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Bị cáo P có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện là lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác
được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra và tại
phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i-s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Xét, bị cáo có nơi cư trú ổn định. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi
phạm tội của bị cáo, hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách lý đối với bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo là thể hiện sự nhân đạo khoan hồng của pháp luật, nhưng cũng không làm mất đi tính giáo dục và sự nghiêm khắc răn đe của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Xét tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã tự thỏa
thuận được về việc bồi thường và sự thỏa thuận này không trái với qui định của pháp luật nên cần được ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 02 cái ghế nhựa chồng lên nhau, màu đỏ,
kích thước 27x22cm, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố
tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i-s khoản 1 Điều 51 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ
luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Dương Hoàng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Dương Hoàng P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho
hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 24/11/2022.
Giao bị cáo Dương Hoàng P cho Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục bị cáo trong suốt thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Dương Hoàng P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Dương Hoàng P cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 02 cái ghế nhựa chồng lên nhau, màu đỏ, kích thước
27x22cm.
(Tài sản tịch thu tiêu hủy được ghi nhận tại Biên bản giao nhận vật chứng,
tài sản số 65/BB/2022 ngày 22/11/2022 của Công an Quận 3 giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3)
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự Điều 590 Bộ luật
Dân sự.
Bị cáo Dương Hoàng P phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị
Kiều L số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn thi hành án của bị hại bà Trần Thị Kiều L nếu bị cáo
Dương Hoàng P chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Hoàng P phải chịu 200.000 đồng
(hai trăm ngàn đồng); Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015;
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo)./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - VKS ND Quận 3; - TAND TP.HCM ; - Chi cục THADS Quận 3; - Công an Quận 3; - PC53-CATP.HCM - Lưu: VP, hồ sơ (Dung). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Sơn |