- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy Suzuki Viva màu xanh, BKS 16F2-8773, có số khung: BE42C-TH704506 và số máy E409-TH704506 của Trịnh Văn X là p…
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2022/HS-ST Ngày 31-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Trịnh Văn X, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1971, tại Nam Định. Nơi cư trú: Số 6B 273 tổ 8 đường Th, phường Th, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ch; có vợ Bùi Thị Thanh B (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 21/2008/HSST ngày 29/02/2008, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (đã được xóa án); bị bắt tạm giữ ngày 20/5/2022; tạm giam ngày 26/5/2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 20/5/2022, tổ công tác Công an phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát hiện Trịnh Văn X đang điều khiển xe máy đi trên đường 100m thuộc Cụm 5, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay trái của X 01 túi nilon bên trong chứa cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. Ngoài ra còn thu giữ của X 01 xe máy Suzuki Viva màu xanh, BKS 16F2-8773. Tổ công tác đã dẫn giải X về trụ sở Công an phường Đông Khê, thành phố Hải Phòng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại cơ quan điều tra, Trịnh Văn X khai: Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/5/2022, X điều khiển xe máy một mình đến đường tàu phường Mê Linh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy về sử dụng. X gặp và mua của một phụ nữ đứng ở hành lang đường tàu 200.000 đồng được 01 gói nilon chứa Heroine dạng cục màu trắng. X cầm ma túy ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe về đến khu vực đường 100m thuộc Cụm 5, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để tìm chỗ sử dụng thì bị bắt giữ.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe máy Suzuki Viva màu xanh, BKS 16F2-8773 và 01 túi nilon bên trong chứa cục chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Kết luận giám định số 219/ KL- KTHS (MT) ngày 23/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng chứa trong 01 gói nilon thu giữ của Trịnh Văn X là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, là loại: Heroine.
Tại Bản Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 05/8/2022 Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trịnh Văn X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Trịnh Văn X khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 0,18 gam, là loại Heroine.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trịnh Văn X với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy Suzuki Viva màu xanh, BKS 16F2-8773 của X là phương tiện dùng vào việc mua ma túy; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 219MT/PC09 chứa lượng ma túy còn lại sau giám định; trong vụ án này đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho X, do X không biết rõ lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền không có cơ sở điều tra xử lý; về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai nhận của bị cáo Trịnh Văn X tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, khẳng định: Hồi 13 giờ ngày 20/5/2022, Trịnh Văn X đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại bản Kết luận giám định số 219/ KL- KTHS (MT) ngày 23/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Trịnh Văn X là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, là loại: “Heroine”. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trịnh Văn X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố đối với bị cáo Trịnh Văn X về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Xét về nhân thân:
Bị cáo có 01 tiền án năm 2008, tuy đã được xóa án nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu và là đối tượng nghiện hút chất ma túy từ năm 2005 cho đến nay. Như vậy chứng tỏ bị cáo không có ý thức cải tạo tu dưỡng để làm người công dân lương thiện.Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, bị cáo Trịnh Văn X còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về việc xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy Suzuki Viva màu xanh, BKS 16F2-8773 của Trịnh Văn X là phương tiện dùng việc mua ma túy; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 219MT/PC09 chứa lượng ma túy còn lại sau giám định.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho X, do X không biết rõ lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền không có cơ sở điều tra xử lý.
- Về án phí:
Bị cáo Trịnh Văn X phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Trịnh Văn X được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trịnh Văn X 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/5/2022.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy Suzuki Viva màu xanh, BKS 16F2-8773, có số khung: BE42C-TH704506 và số máy E409-TH704506 của Trịnh Văn X là phương tiện dùng việc mua ma túy; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 219MT/PC09 chứa lượng ma túy còn lại sau giám địnhcủa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trịnh Văn X phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Trịnh Văn X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - PV06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |