- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt: Tuyên ố cáo Nguyễn Th H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2022/HS-PT Ngày: 22/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Cường
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Vào ngày 22 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 586/2021/TLPT-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với cáo Nguyễn Th H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 24/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Theo quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 1196/2022/QĐXXPT-HS ngày 04/3/2022.
1. B cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Th H, sinh ngày 13/10/1997 tại Hưng ên; n i cư trú: Tổ dân phố 6, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 5, th trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn án; dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Nguyễn Văn C và con à Lê Th D; gia đình có 04 ch em, b cáo là con lớn nhất; có chồng tên là Nguyễn Kiều H1 và có 02 con, lớn sinh năm 2014 và con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không
B cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi n i cư trú, hiện b cáo tại ngoại, có mặt.
- Người ào chữa cho b cáo: Luật sư Trần Đại H2, Văn phòng Luật sư L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Người ào chữa cho b cáo theo yêu cầu của b cáo: Luật sư Ngô Quốc C1, Văn phòng Luật sư Q, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
2. B hại có kháng cáo:
- Ch Nguyễn Th H2, sinh năm 1956; đ a chỉ: Thôn TT, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Ch Lê Th T1, sinh năm 1960; đ a chỉ: TDP 1, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
- Ch Phạm Th Th1, sinh năm 1968; đ a chỉ: TDP 6, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai. có mặt.
- Anh Vũ Đăng K1, sinh năm 1978; đ a chỉ: Thôn TT, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Ch Nguyễn Th Xuân L1, sinh năm 1987; đ a chỉ: TDP 6, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Ch Phạm Th N1, sinh năm 1978; đ a chỉ: TDP 1, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Bà Lê Th B2, sinh năm 1957; đ a chỉ: TDP 2, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai, có đ n xét xử vắng mặt.
- Ch Ngô Th T2, sinh năm 1982; đ a chỉ: TDP 1, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai, có mặt.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các hại Vũ Đăng K1, Ngô Th T2, Lê Th B2, Phạm Th N1, Nguyễn Th Xuân L1: Luật sư Chu Đ2, Văn phòng Luật sư C, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Kiều H1, sinh năm 1984; đ a chỉ: TDP 5, th trấn P, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, có mặt.
- Anh Nguyễn Viết Tr, sinh năm 1999; đ a chỉ: 126/15 đường N3, phường L3, huyện N4, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Th H làm nghề uôn án th t heo tại chợ th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai. Đến năm 2016, H tự làm thêm d ch vụ cho người khác vay tiền để đáo hạn nợ vay Ngân hàng. Để có tiền cho người khác vay, H đã vay tiền của nhiều người khác tại huyện I1, tỉnh Gia Lai sau đó cho người có nhu cầu đáo hạn nợ vay Ngân hàng vay lại để hưởng tiền lãi suất chênh lệch. H tự làm iển quảng cáo làm d ch vụ đáo hạn Ngân hàng treo trước cổng nhà mình. Theo Nguyễn Th H khai: Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2016 đến tháng 5/2018, H đã vay tiền của khoảng h n 14 cá nhân trên đ a àn huyện I1, tỉnh Gia Lai với tổng số tiền khoảng h n 10 tỷ đồng với mục đích sử dụng vào việc đáo hạn Ngân hàng. Sau khi vay được số tiền trên, ngoài việc sử dụng nguồn vốn vay cho người khác vay lại để đáo nợ Ngân hàng, H còn sử dụng vào việc đầu tư mua heo về mổ án th t và còn sử dụng vào mục đích cá nhân khác. Do làm ăn uôn án thua lỗ và phải trả lãi suất cho những người H vay nên dẫn đến thâm hụt nguồn vốn, mất khả năng thanh toán nợ. Vào khoảng đầu tháng 6 năm 2018, H không còn làm d ch vụ đáo hạn Ngân hàng nữa, nhưng để có tiền trả nợ tiền gốc và lãi đã vay và che giấu việc làm ăn uôn án thua lỗ, mất khả năng trả nợ của mình nên H đã nảy sinh ý đ nh chiếm đoạt tiền của người sau để trả tiền gốc, tiền lãi vay của người trước. Để tạo lòng tin vay được tiền, H đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin không có thật là vay tiền để cho người khác vay đáo hạn Ngân hàng, H thỏa thuận với người cho vay về việc sẽ trả lãi suất cao, thưởng tiền hoa hồng, thưởng các chuyến du l ch, thưởng xe máy… Đồng thời, tạo dựng sự việc trong các ngày tết, lễ H tự đi đặt mua các lẵng hoa và tự ghi tên các Ngân hàng tặng mang về để tại nhà mình làm cho người b hại tin tưởng việc H vẫn còn đang làm d ch vụ đáo hạn Ngân hàng là thật nên đã cho H vay và H chiếm đoạt để trả nợ cá nhân. Bằng thủ đoạn gian dối nêu trên, trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 8 năm 2018, Nguyễn Th H đã chiếm đoạt tiền của 12 cá nhân với tổng số tiền 9.205.000.000 đồng như sau:
1. Chiếm đoạt của Nguyễn Th Thu T3 (sinh năm 1985, trú tại: TDP 5, th trấn I, huyện I1- tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ là à con họ hàng, trong thời gian từ ngày 20/6/2018 đến ngày 07/8/2018 Nguyễn Th H đã 03 lần chiếm đoạt tiền của Nguyễn Th Thu T3 như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 20/6/2018, thông qua à Đặng Th N5, H đến nhà ch T3 gặp và đặt vấn đề hỏi vay tiền của ch T3 để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Ch T2 tin là thật nên đưa cho H 100.000.000 đồng.
Lần Thứ hai: Ngày 26/6/2018, H đến gặp ch T3 nói cần thêm tiền để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Ch T2 tin là thật nên đưa cho H 35.000.000 đồng.
Lần thứ a: Ngày 07/8/2018, H đến nhà ch T3 hỏi vay thêm tiền để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Ch T3 đã đưa cho H 70.000.000 đồng.
Tổng cộng H đã nhận của ch T2 205.000.000 đồng. Số tiền này, H đã trả lại cho ch T2 8.500.000 đồng, còn lại H dùng để trả nợ cho người khác. Đến hẹn trả nợ không thấy H trả tiền nên ch T2 nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả lại số tiền đã nhận, nhưng H không trả. Ngày 27/8/2018, ch Nguyễn Th Thu T3 đã viết đ n tố giác hành vi của H.
2. Chiếm đoạt của ch Nguyễn Lê Kim T4 (sinh năm 1986, trú tại: Thôn 2, xã I, huyện C2, tỉnh Gia Lai). Lợi dụng vào mối quan hệ quen biết với ch Nguyễn Lê Kim T4 trong việc vay tiền để đáo hạn Ngân hàng từ thời gian trước. Ngày 06/8/2018, H gọi điện thoại hỏi ch T4 vay 200.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác và hứa khi Ngân hàng giải ngân sẽ trả. Ch T4 tin tưởng lời nói của H là thật nên đã nhờ bạn ch T4 là ch Cáp Th Mỹ H3 chuyển số tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản của H. Sau khi nhận được tiền, H khai sử dụng 12.000.000 đồng trả lãi cho ch T4, số tiền còn lại H sử dụng trả nợ cho người khác. Việc H khai trả tiền lãi cho ch T4 nhưng không có tài liệu gì chứng minh và ch T4 không thừa nhận nên không có căn cứ xác đ nh H đã trả tiền lãi cho ch T4. Đến hẹn trả nợ không thấy H trả tiền nên ch T4 nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả lại số tiền đã nhận, nhưng H không trả. Ngày 06/9/2018, ch Nguyễn Lê Kim T4 đã viết đ n tố giác hành vi của H.
3. Chiếm đoạt của ch Ngô Th T2 (sinh năm 1982, trú tại: TDP 1, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ quen biết do cùng án th t heo ở chợ I, huyện I1 và mối quan hệ trong việc vay tiền để đáo hạn Ngân hàng từ trước. Ngày 05/7/2018 H nói với ch T3 là cần 500.000.000 đồng để đáo nợ Ngân hàng cho người khác. Vì đã cho H vay nhiều lần, H trả lãi đủ, đều hàng tháng và thấy nhà H treo biển đáo hạn Ngân hàng, ch T2 tin là thật nên đã đưa cho H 500.000.000 đồng. H nhận tiền và viết Giấy vay tiền đưa ch T2 giữ. Sau khi nhận tiền, H đã dùng trả cho ch T2 24.000.000 đồng tiền lãi và 50.000.000 đồng tiền gốc, số tiền còn lại H dùng trả nợ cho người khác. Đến hẹn trả nợ không thấy H trả tiền nên ch T2 nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả lại số tiền đã nhận, nhưng H không trả. Ngày 04/9/2018, ch T2 đã viết đ n tố giác hành vi của H.
4. Chiếm đoạt của ch Phạm Th N1 (sinh năm 1978, trú tại: TDP 1, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ quen biết, Nguyễn Th H đã có 02 lần gian dối vay mượn và chiếm đoạt của ch Phạm Th N1, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào ngày 21/8/2018, H gặp ch N1 trên đường Hùng Vư ng thuộc th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai. H hỏi ch N1 vay 200.000.000 đồng để H đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Ch N1 tin tưởng lời nói của H là thật. Ch N1 nói nhà không có tiền để ch N1 đi hỏi vay giúp H, khi nào có tiền thì ch N1 gọi điện thoại đến lấy, H đồng ý. Ngày 22/8/2018, ch N1 đi vay tiền của người khác được 200.000.000 đồng mang về nhà rồi gọi điện cho H đến nhà mình đưa cho H vay số tiền nêu trên. H nhận tiền và viết Giấy vay tiền đưa ch N1 giữ. Đến ngày 23/8/2018, H tiếp tục đến gặp ch N1 hỏi vay 300.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Do tin tưởng là thật nên ch N1 đi vay của người khác 300.000.000 đồng về đưa cho H vay. H nhận tiền và ghi thêm nội dung mượn 300 triệu đồng vào Giấy mượn tiền ngày 22/8/2018 đưa ch N1 giữ. Tổng cộng H nhận của ch N1 500.000.000 đồng, sau khi nhận được tiền H sử dụng trả nợ cho người khác. Ngày 27/8/2018, Nguyễn Th H đến c quan Công an trình áo không còn khả năng trả nợ nên ch Phạm Th N1 đã viết đ n tố giác hành vi của Nguyễn Th H và lập Hợp đồng cho cá nhân vay tiền thể hiện ngày 22 và 23/8/2018 cho vợ chồng H mượn 500.000.000 đồng và yêu cầu vợ chồng H ký vào hợp đồng.
5. Chiếm đoạt của ch Đỗ Th U (sinh năm 1989, trú tại: TDP 7, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ là à con họ hàng, từ ngày 23/7/2018 đến ngày 26/7/2018 Nguyễn Th H đã có 03 lần chiếm đoạt tiền của của ch Đỗ Th U như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 23/7/2018, thông qua à Đặng Th N5 ( à N5 là mẹ ruột của ch U), H đến nhà ch U và hỏi ch U vay số tiền 450.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Thấy nhà H có iển đáo hạn Ngân hàng, iết H làm d ch vụ đáo hạn từ lâu, thấy nhà H có nhiều logo, lẵng hoa của nhiều Ngân hàng tặng nên tin tưởng H nói là thật, ch U đã đưa cho H 450.000.000 đồng. H nhận tiền và viết Giấy mượn tiền đưa ch U giữ.
Lần thứ hai: Ngày 24/7/2018, H đến gặp ch U tiếp tục hỏi vay số tiền 400.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Ch U tin là thật nên đã đưa cho H số tiền 400.000.000 đồng. H nhận tiền và viết Giấy mượn tiền giao ch U giữ.
Lần thứ a: Ngày 26/7/2018, Nguyễn Th H đến gặp ch U và hỏi vay số tiền 1.100.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Do tin tưởng là thật nên Út đã tiếp tục đưa cho H tiền. Vì chỉ có 900.000.000 đồng nên ch U giao cho H số tiền 900.000.000 đồng. H nhận tiền và viết Giấy mượn tiền giao ch U giữ.
Tổng cộng H nhận của ch U 1.750.000.000 đồng. H đã trả cho ch U 300.000.000 đồng tiền gốc và 52.000.000 đồng tiền lãi, số còn lại H sử dụng trả nợ cho người khác. Đến hẹn trả nợ không thấy H trả tiền nên ch U nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả lại số tiền đã vay nhưng H không trả. Ngày 28/8/2018, ch Đỗ Th U đã viết đ n tố giác hành vi của H.
6. Chiếm đoạt của ch Phạm Th Th1 (sinh năm 1968, trú tại: TDP 6, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ quen biết vì là hàng xóm láng giềng, từ ngày 06/8/2018 đến ngày 08/8/2018 Nguyễn Th H đã 02 lần chiếm đoạt tiền của ch Phạm Th Th1, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào ngày 25/6/2018 (Âm l ch) tức ngày 06/8/2018 (Dư ng l ch), H đến nhà ch Th1 hỏi vay số tiền 100.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Thấy nhà H có để biển d ch vụ đáo hạn Ngân hàng, nghe nhiều người nói H làm đáo hạn Ngân hàng từ lâu và uy tín, ch Th1 tin tưởng lời nói của H là thật nên đã đưa cho H số tiền là 100.000.000 đồng. H viết Giấy vay tiền giao ch Th1 giữ.
Lần thứ hai: Vào ngày 25/6/2018 (Âm l ch) tức ngày 08/8/2018 Dư ng l ch, H đến gặp ch Th1 và hỏi vay 400.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Ch Th1 tin là thật nên đã nói với H hiện tại nhà không có tiền, để ch đi vay người khác rồi cho H vay, khi nào vay được tiền thì gọi cho H. Sau khi vay được 200.000.000 đồng, ch Th1 gọi điện cho H nhưng H không có ở nhà nên H nói để chồng là Nguyễn Kiều H1 đến lấy tiền. Sau đó H1 đến nhà ch Th1 nhận 200.000.000 đồng rồi viết Giấy iên nhận vào mặt sau Giấy vay tiền ngày 06/8/2018 nội dung vay số tiền 200.000.000 đồng và đem tiền về đưa cho H.
Tổng cộng H đã nhận 300.000.000 đồng của ch Th1, số tiền này H đã đưa lại cho ch Th1 10.000.000 đồng, số tiền còn lại H sử dụng trả nợ cho người khác. Đến hẹn trả nợ không thấy H trả tiền nên ch Th1 nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả lại số tiền đã vay nhưng H không trả. Ngày 28/8/2018, ch Th1 đã viết đ n tố giác hành vi của H.
7. Chiếm đoạt của ch Lê Th T1 (sinh năm 1963, trú tại: TDP 1, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ quen biết từ trước về việc vay tiền để đáo hạn Ngân hàng. Ngày 18/8/2018, H đến nhà ch T1 hỏi vay 200.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Do trước đây đã cho H vay tiền để H đáo hạn Ngân hàng, H đều trả nợ gốc và lãi đầy đủ đúng hẹn, thấy nhà H có treo biển đáo hạn Ngân hàng nên ch T1 tin tưởng H nói là thật đã đưa cho H số tiền 200.000.000 đồng. H nhận tiền và viết Giấy iên nhận vay tiền giao ch T1 giữ. Sau khi nhận được tiền, H sử dụng trả nợ cho người khác. Đến ngày 27/8/2018 H đến Công huyện trình áo không còn khả năng trả nợ, nên ngày 28/8/2018 ch T1 đã viết đ n tố giác hành vi của H.
8. Chiếm đoạt của à Đặng Th N5 (sinh năm 1951, trú tại: Thôn TT, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai). Khoảng cuối tháng 6/2018, Nguyễn Th H gặp à N5 hỏi vay 400.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Tin H nói là thật nên à N5 đã đưa cho H 400.000.000 đồng. Hai ên không viết Giấy vay tiền. Ngày 20/7/2018, H đến nhà à N5 hỏi vay số tiền 500.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác và nói ồi dưỡng cho à N5 tiền hoa hồng. Bà N5 tin tưởng là thật nên đã cho H vay số tiền 500.000.000 đồng và à N5 đã viết chung thành một Giấy vay tiền là 900.000.000 đồng. Tổng cộng H nhận của à N5 900.000.000 đồng. Số tiền này H đã trả cho à N5 400.000.000 đồng tiền gốc và đưa 40.000.000 đồng tiền hoa hoa hồng, số còn lại H sử dụng trả nợ cho người khác. Đến hẹn trả nợ không thấy H trả tiền nên à N5 nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả lại số tiền đã vay nhưng H không trả, nên ngày 28/8/2018 à N5 đã viết đ n tố giác hành vi của H.
9. Chiếm đoạt của à Lê Th B2 (sinh năm 1957, trú tại: TDP 2, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ quen biết vì cùng án th t heo tại chợ I, huyện I1, tỉnh Gia Lai. Ngày 05/8/2018, Nguyễn Th H đến nhà gặp và nói với à B2 là H có nhận một hồ s Hợp đồng đáo hạn Ngân hàng với số tiền cần đáo hạn là 1.300.000.000 đồng và hỏi vay số tiền trên để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Do iết H làm d ch vụ đáo hạn Ngân hàng từ trước, tin tưởng lời nói của H là thật nên à B2 đồng ý đưa cho H 950.000.000 đồng, H viết Giấy mượn tiền hẹn 01 tháng sau sẽ trả lãi và gốc. Sau khi nhận được tiền, H không sử dụng đáo nợ Ngân hàng cho ai mà sử dụng trả nợ cho người khác. Ngày 26/8/2018, Nguyễn Th H đã cấn trừ nợ cho à B2 01 chiếc xe máy, 01 tivi và 5.000.000 đồng, tổng tr giá là 40.000.000 đồng. Ngày 27/8/2018 H lên Công an thông áo không còn khả năng trả nợ nên à B2 đã viết đ n tố giác hành vi của H
10. Chiếm đoạt của anh Vũ Đăng K1 (sinh năm 1978, trú tại: Thôn TT, th trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ quen biết vì cùng uôn án tại chợ I, th trấn I, huyện IaGrai. Trong thời gian từ ngày 20/8/2018 đến ngày 22/8/2018 Nguyễn Th H đã có 02 lần chiếm đoạt tiền của anh Vũ Đăng K1, cụ thể:
Vào ngày 19/8/2018, Nguyễn Th H đến nhà anh K1 hỏi mượn tiền để đáo hạn Ngân hàng cho người khác, H nói cần 04 tỷ đồng. Anh K1 nói hiện tại anh không có số tiền nhiều như vậy. Đến ngày 20/8/2018, H tiếp tục đến nhà gặp anh K1 để hỏi vay số tiền để đáo hạn Ngân hàng cho người khác, H hẹn vay 04 ngày sẽ trả gốc và lãi. H còn nói nếu cho H vay số tiền trên thì H sẽ trả thêm 40.000.000 đồng tiền “Hoa hồng” cho anh K1. Do biết H làm d ch vụ đáo hạn Ngân hàng từ lâu, anh K1 tìm hiều thì được biết H làm ăn uy tín, vay tiền đáo hạn trả lãi đầy đủ đúng hẹn nên anh K1 tin tưởng lời nói của H là thật và đồng ý đưa cho H 700.000.000 đồng. Đến ngày 21/8/2018, H tiếp tục hỏi vay anh K1 02 lần nữa để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Anh K1 đã đưa cho H tiền và yêu cầu viết chung tất cả các lần vay vào một Giấy mượn tiền với số tiền là 2,5 tỷ đồng.
Ngày 22/8/2018, H tiếp tục gặp anh K1 hỏi vay 300.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác. Anh K1 tin là thật nên tiếp tục đưa cho H 300.000.000 đồng. H nhận tiền viết Giấy vay đưa anh K1 giữ và hẹn 03 ngày sau trả gốc và lãi.
Tổng số tiền H lừa dối nhận của anh K1 2.800.000.000 đồng. Trong số tiền này, H đã đưa cho anh K1 40.000.000 đồng tiền “Hoa hồng”, số tiền còn lại H đã dùng để trả nợ cho người khác. Đến ngày 26/8/2018 anh K1 đến nhà H đòi tiền, H đưa cho anh K1 9.000.000 đồng. Sau khi H áo không còn khả năng trả nợ, anh K1 đã viết đ n tố giác hành vi của H.
11. Chiếm đoạt của ch Nguyễn Th H2 (sinh năm 1956, trú tại: Thôn TT, th trấn I, huyện I1,tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ quen biết do cùng án th t heo tại chợ I, huyện I1 và mối quan hệ vay tiền để đáo hạn Ngân hàng thời gian trước. Vào khoảng ngày 08/7/2018, H hỏi ch H2 vay 400.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng cho người khác, đáo hạn xong lấy tiền từ Ngân hàng ra sẽ trả và hứa cho ch H2 40.000.000 đồng tiền “Hoa hồng”, lãi suất tự thỏa thuận. Do tin tưởng lời nói của H là thật nên ngày 18/7/2018, ch H2 đi mượn người quen được 400.000.000 đồng và điện thoại cho H đến nhà lấy tiền. H nói với ch H2 là đang ận đáo hạn Ngân hàng cho người khác ở Pleiku, H nói ch H2 qua nhà H đưa tiền cho H1 (chồng H). Ch H2 đã mang 400.000.000 đồng đến nhà H và đưa cho H1, H1 viết Giấy nhận tiền đưa cho ch H2 giữ và H1 đưa lại số tiền cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã sử dụng trả cho ch H2 12.000.000 đồng tiền lãi và 40.000.000 đồng tiền “Hoa hồng”, số tiền còn lại H dùng trả nợ cho người khác. Đến tháng 4/2019, H trả cho ch H2 thêm 1.000.000 đồng. Ch H2 nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả lại số tiền đã nhận, nhưng H không trả nên ngày 06/3/2019 ch H2 đã viết đ n tố giác hành vi của H.
12. Chiếm đoạt của ch Nguyễn Th Xuân L1 (sinh năm 1987, trú tại: Thôn TT, th trấn I, huyện I1,tỉnh Gia Lai). Thông qua mối quan hệ quen biết vì là hàng xóm, ngày 30/7/2018 H hỏi vay ch L1 500.000.000 đồng đáo hạn Ngân hàng. Do tin tưởng H, L1 đồng ý. Ch L1 đến nhà Trần Th Kim C2 mượn 500.000.000 đồng về đưa cho H. H viết Giấy mượn tiền đưa ch L1 giữ. Sau khi kiểm tra thấy H ghi sai số Chứng minh nhân dân, nên ch L1 sử dụng mẫu Giấy nhận nợ của mình và viết lại nội dung vợ chồng H mượn 500.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng và đưa H, H1 ký lại. Sau khi nhận tiền, H đưa ch L1 65.000.000 đồng và nói là Ngân hàng thưởng xe SH, sau đó chuyển vào tài khoản ch L1 15.000.000 đồng do Ngân hàng thưởng 01 chuyến du l ch Đà Nẵng. Số tiền còn lại H dùng trả nợ cho người khác. Đến ngày 18/9/2018, ch L1 đã viết đ n tố cáo Nguyễn Th H.
Bản án hình sự s thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 24/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết đ nh:
Về tội danh, hình phạt: Tuyên ố cáo Nguyễn Th H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt cáo Nguyễn Th H 17 (mười ảy năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo đi thi hành án.
Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.
- Buộc b cáo Nguyễn Th H phải trả lại số tiền cho các hại như sau:
Trả cho hại Nguyễn Th Thu T3 196.500.000 đồng.
Trả cho hại Nguyễn Lê Kim T4 200.000.000 đồng.
Trả cho hại Ngô Th T2 426.000.000 đồng.
Trả cho hại Đỗ Th U 1.398.000.000 đồng.
Trả cho hại Đặng Th N5 460.000.000 đồng.
Trả cho hại Lê Th B2 910.000.000 đồng.
Tổng cộng: 3.590.500.000 đồng.
- Buộc cáo Nguyễn Th H và Nguyễn Kiều H1 liên đới trả lại số tiền cho các hại như sau:
Trả cho hại Phạm Th N1 500.000.000 đồng.
Trả cho hại Phạm Th Th1 290.000.000 đồng.
Trả cho hại Lê Th T1 170.000.000 đồng.
Trả cho hại Vũ Đăng K1 2.751.000.000 đồng.
Trả cho hại Nguyễn Th H2 363.000.000 đồng.
Trả cho hại Nguyễn Th Xuân L1 420.000.000 đồng.
Tổng cộng: 4.494.000.000 đồng.
Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết đ nh về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 06/12/2021, b cáo Nguyễn Th H kháng cáo kêu oan.
Các ngày 06 và 07 tháng 12 năm 2021, các b hại Nguyễn Th H2, Lê Th T1, Phạm Th Th1, Vũ Đăng K1, Nguyễn Th Xuân L1, Phạm Th N1, Lê Th B2, Ngô Th T2 kháng cáo đề ngh tăng hình phạt đối với b cáo H và xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Kiều H1 và Nguyễn Viết Tr.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
B cáo Nguyễn Th H trình ày thay đổi nội dung kháng cáo: B cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, do đó đề ngh Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho cáo. Đề ngh xét xử vắng mặt luật sư Ngô Quốc Chiến.
Các hại Nguyễn Th H2, Lê Th T1, Phạm Th Th1, Vũ Đăng K1, Nguyễn Th Xuân L1, Phạm Th N1, Lê Th B2, Ngô Th T2 trình ày giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát iểu quan điểm:
Về tố tụng: Kháng cáo, nội dung thay đổi kháng cáo của b cáo Nguyễn Th H và kháng cáo của các hại Nguyễn Th H2, Lê Th T1, Phạm Th Th1, Vũ Đăng K1, Nguyễn Th Xuân L1, Phạm Th N1, Lê Th B2, Ngô Th T2 là trong thời hạn luật đ nh.
Về nội dung: Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay, cáo Nguyễn Th H nhận tội. Mặc dù cáo nhận tội và được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Tuy nhiên, đối chiếu hành vi phạm tội, hậu quả b cáo gây ra cho các hại và việc b cáo không khắc phục bồi thường cho các hại sau khi xét xử s thẩm. Do đó, thấy rằng mức hình phạt mà Toà án cấp s thẩm xử phạt b cáo là thỏa đáng. Đối với kháng cáo của các hại, qúa trình điều tra cũng đã chứng minh được anh Nguyễn Kiều H1 là chồng cáo có ký một số Giấy vay tiền nhưng thực tế anh H1 không iết cáo H gian dối chiếm đoạt tiền này của hại; anh Nguyễn Viết Tr không iết cáo H dùng thẻ của mình vào hành vi thực hiện tội phạm. H n nữa, Tòa án cấp s thẩm đã trả hồ s 02 lần để điều tra hành vi của H1, Tr nhưng không chứng minh được hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của cáo và của các hại, giữ nguyên ản án s thẩm.
Luật sư ào chữa cho b cáo tranh tụng: Thống nhất về tội danh mà Tòa án cấp s thẩm xét xử b cáo H. Tuy nhiên, đề ngh Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, cáo H thay đổi nội dung kháng cáo kêu oan là nhận tội nên được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Hoàn cảnh gia đình cáo hiện nay rất khó khăn, con nhỏ, chồng không có việc làm và thu nhập. Do đó mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho cáo. B cáo thống nhất nội dung luật sư tranh tụng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các hại tranh tụng: Hiện nay các hại kinh tế rất khó khăn cùng cực, có trường hợp phải án nhà để trả nợ cho người khác. Trong khi cáo chiếm đoạt tiền của các hại mà không iết hiện nay tiền đi đâu, chi tiêu gì mà không khắc phục cho các hại dù chỉ một phần. Đối với hành vi của Nguyễn Kiều H1 và Nguyễn Viết Tr mặc dù đã trả hồ s 02 lần để điều tra làm rõ, nhưng không xác đ nh được hành vi vi phạm pháp luật. Bản thân tôi thấy rằng hai anh Nguyễn Kiều H1 và Nguyễn Viết Tr iết hành vi phạm tội của cáo nên phải được điều tra xử lý. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các hại tăng hình phạt đối với cáo. Các hại thống nhất nội dung tranh tụng của người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Chu Đ2.
B hại Nguyễn Th H2, Phạm Th Th1 tranh tụng: Đề ngh Hội đồng xét xử giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.
Anh Nguyễn Kiều H1 trình ày: Tôi thừa nhận có ký một số Giấy vay tiền, nhưng tôi hoàn tòa không iết việc vợ tôi là Nguyễn Th H có hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của các hại. Mong Hội đồng xét xử xem xét.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng:
Ngày 06/12/2021, cáo Nguyễn Th H kháng cáo. Các ngày 06 và 07 tháng 12 năm 2021, các b hại Nguyễn Th H2, Lê Th T1, Phạm Th Th1, Vũ Đăng K1, Nguyễn Th Xuân L1, Phạm Th N1, Lê Th B2, Ngô Th T2 kháng cáo. Như vậy, kháng cáo của cáo và hại là trong thời hạn luật đ nh. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, cáo đồng ý xét xử vắng mặt luật sư Ngô Quốc C. Xét thấy đây là sự tự nguyện của cáo, do đó Hội đồng xét xử vắng mặt luật sư Ngô Quốc Chiến. B hại Lê Th T1 vắng mặt, Lê Th B2 có đ n xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử vắng mặt hại Lê Th T1, Lê Th B2.
Xét kháng cáo của cáo:
Về hành vi phạm tội của cáo:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử s thẩm b cáo Nguyễn Th H không nhận tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay cáo Nguyễn Th H nhận tội được thể hiện như sau: Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2016 đến tháng 5 năm 2018 Nguyễn Th H làm d ch vụ cho vay đáo hạn Ngân hàng ằng hình thức vay tiền của nhiều người, sau đó cho người có nhu cầu đáo hạn Ngân hàng vay nhằm hưởng chênh lệch về lãi suất thì thua lỗ, thâm hụt vốn, mất khả năng chi trả nên không còn làm d ch vụ nữa. Từ đó, cáo nảy sinh ý đ nh chiếm đoạt tiền của người khác ằng hình thức vay tiền của người sau để trả cho người trước. Nên mặc dù không còn làm d ch vụ đáo hạn Ngân hàng nữa, nhưng cáo đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin không có thật là vay tiền của người khác để cho vay đáo hạn. Để tạo niềm tin với người cho vay tiền, Nguyễn Th H thỏa thuận lãi suất cao, thưởng hoa hồng, tự mua hoa vào các ngày lễ ghi tên Ngân hàng tặng làm cho các hại tin tưởng cáo vẫn còn làm d ch vụ đáo hạn. Bằng thủ đoạn gian dối trên, trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2018, cáo đã chiếm đoạt tiền của 12 cá nhân với số tiền 9.205.000.000 đồng. Như vậy, lời khai nhận tội của cáo tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay phù hợp với lời khai của các hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, Biên ản đối chất, Kết luận giám đ nh về chữ ký, chữ viết và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ s vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ c sở kết luận: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối của cáo chiếm đoạt tài sản của 12 hại với số tiền 9.205.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết đ nh khung hình phạt là “Chiếm đoạt tài sản tr giá từ 500.000.000 đồng trở lên” theo quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp s thẩm xét xử cáo Nguyễn Th H theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của cáo thấy rằng:
B cáo iết rõ ản thân không có khả năng chi trả số tiền còn nợ người khác, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi gian dối như hứa hẹn với các hại là trả lãi suất cao, tự mua hoa vào các ngày lễ đề tên Ngân hàng tặng, tự thưởng hoa hồng, các chuyến du l ch, phần thưởng cho các hại nhằm tạo niềm tin và sự tin tưởng của các hại để cáo chiếm đoạt số tiền rất lớn là 9.205.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của cáo thuộc trường hợp đặc iệt nghiêm trọng quy đ nh mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân. B cáo đã trực tiếp xâm phạm trái phép đến quyền sở hữu tài sản của các hại, gây mất trật tự an toàn xã hội tại đ a phư ng.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tòa án cấp s thẩm đã nhận đ nh, đánh giá và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho b cáo là đúng pháp luật. Đối với số tiền 5.000.000 đồng cáo đã nộp khắc phục hậu quả trước khi xét xử s thẩm nhưng không được Tòa án cấp s thẩm áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội tự nguyện ồi thường thiệt hại” theo điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, vì số tiền ồi thường so với số tiền chiếm đoạt không đáng kể. Ngoài ra, cáo còn áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay, cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Đối chiếu hành vi phạm tội với hậu quả thiệt hại do b cáo gây ra thì mức hình phạt 17 năm tù mà Tòa án cấp s thẩm xử phạt b cáo là thỏa đáng, không nặng. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Th H, giữ nguyên ản án s thẩm.
Xét kháng cáo của các hại:
Như đã phân tích tại mục [2] nêu trên, mức hình phạt mà Tòa án cấp s thẩm xử phạt b cáo Nguyễn Th H 17 năm tù là thỏa đáng và Hội đồng xét xử đã không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo. Do đó cũng không chấp nhận kháng cáo của các hại tăng hình phạt đối với b cáo. Đối với việc xem xét trách nhiệm đồng phạm của Nguyễn Kiều H1 và Nguyễn Viết Tr, thấy rằng: Tòa án cấp s thẩm đã trả hồ s 02 lần để điều tra hành vi của H1, Tr nhưng không chứng minh được hành vi vi phạm. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của các hại về nội dung này.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc cáo Nguyễn Th H phải trả lại số tiền chiếm đoạt cho các hại và liên đới cùng Nguyễn Kiều H1 phải trả lại số tiền cho các hại mà H1 cùng ký, cụ thể:
* Buộc cáo Nguyễn Th H phải trả lại số tiền cho các hại:
Trả cho hại Nguyễn Th Thu T3 196.500.000 đồng
Trả cho hại Nguyễn Lê Kim T4 200.000.000 đồng
Trả cho hại Ngô Th T2 426.000.000 đồng
Trả cho hại Đỗ Th U 1.398.000.000 đồng
Trả cho hại Đặng Th N5 460.000.000 đồng
Trả cho hại Lê Th B2 910.000.000 đồng
Tổng cộng: 3.590.500.000 đồng
* Buộc cáo Nguyễn Th H và Nguyễn Kiều H1 liên đới trả lại số tiền cho các hại:
Trả cho hại Phạm Th N1 500.000.000 đồng
Trả cho hại Phạm Th Th1 290.000.000 đồng
Trả cho hại Lê Th T1 170.000.000 đồng
Trả cho hại Vũ Đăng K1 2.751.000.000 đồng
Trả cho hại Nguyễn Th H2 363.000.000 đồng
Trả cho hại Nguyễn Th Xuân L1 420.000.000 đồng
Tổng cộng: 4.494.000.000 đồng
Đối với khoản tiền Nguyễn Th H vay mượn các ch Nguyễn Lê Kim T4 350.000.000 đồng, Ngô Th T2 1.350.000.000 đồng, ch Nguyễn Th Xuân L1 4.060.000.000 đồng. Qúa trình điều tra xác đ nh việc vay tiền này giữa Nguyễn Th H với các ch Nguyễn Lê Kim T4, Ngô Th T2, Nguyễn Th Xuân L1 là ngay thẳng, có viết giấy vay, có trả lãi đến 30/7/2018; H không dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền nêu trên. Vì vậy, đây là quan hệ dân sự nên C quan điều tra không kết luận điều tra trong vụ án mà thông áo cho ch T4, ch T2 và ch L1 khởi kiện vụ án dân sự đến Toà án có thẩm quyền là có căn cứ
Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
. Án phí hình sự phúc thẩm: B cáo Nguyễn Th H phải ch u theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Th H và kháng cáo của các hại Nguyễn Th H2, Lê Th T1, Phạm Th Th1, Vũ Đăng K1, Nguyễn Th Xuân L1, Phạm Th N1, Lê Th B2, Ngô Th T2, giữ nguyên ản án s thẩm.
2. Về tội danh, hình phạt: Tuyên ố cáo Nguyễn Th H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt cáo Nguyễn Th H 17 (mười ảy năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo đi thi hành án.
3. Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự:
* Buộc cáo Nguyễn Th H phải trả lại số tiền cho các hại:
Trả cho hại Nguyễn Th Thu T3 196.500.000 đồng
Trả cho hại Nguyễn Lê Kim T4 200.000.000 đồng
Trả cho hại Ngô Th T2 426.000.000 đồng
Trả cho hại Đỗ Th U 1.398.000.000 đồng
Trả cho hại Đặng Th N5 460.000.000 đồng
Trả cho hại Lê Th B2 910.000.000 đồng
Tổng cộng: 3.590.500.000 đồng
* Buộc cáo Nguyễn Th H và Nguyễn Kiều H1 liên đới trả lại số tiền cho các hại:
Trả cho hại Phạm Th N1 500.000.000 đồng
Trả cho hại Phạm Th Th1 290.000.000 đồng
Trả cho hại Lê Th T1 170.000.000 đồng
Trả cho hại Vũ Đăng K1 2.751.000.000 đồng
Trả cho hại Nguyễn Th H2 363.000.000 đồng
Trả cho hại Nguyễn Th Xuân L1 420.000.000 đồng
Tổng cộng: 4.494.000.000 đồng
Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 quy đ nh về trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Án phí hình sự phúc thẩm: B cáo Nguyễn Th H phải ch u 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Các quyết đ nh khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Thành viên Hội đồng xét xử
| (Đã ký Nguyễn Cường Mai Xuân Thành | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký Trần Quốc Cường |