vanban.org

Bản án 80/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Ngô Thị Kim G được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.

Về con chung. Giao cháu Huỳnh Văn Kh, sinh ngày 14/11/2006 cho bà Ngô Thị Kim G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Huỳnh Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà G chưa yêu cầu. Riêng châu Huỳnh Văn D, sinh ngày 15/10/1998 và Huỳnh Văn H, sinh ngày 07/9/2000 đã trưởng thành nên kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị kim G-Huỳnh Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Ngô Thị Kim G được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-12-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Đắc Tư

Bà Huỳnh Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Y – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Lễ- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim G, sinh năm 1973 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: 66/41B, Trương Định, khu phố 6, phường A, thành phố R, Tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện V, TP. Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ngô Thị Kim G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà G và ông T tự quen biết và tự nguyện tiến tới

tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường A thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 07/9/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ, chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mẫu thuẫn là do ông T thường xuyên thô lỗ, cọc cằn và sử dụng vũ lực khi vợ chồng cự cãi, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên bà G và ông T đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Do không còn tình cảm nên bà G khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 03 con chung tên Huỳnh Văn D, sinh ngày 15/10/1998, Huỳnh Văn H, sinh ngày 07/9/2000 và Huỳnh Văn K, sinh ngày 14/11/2006. Khi ly hôn, bà G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu D và cháu H đã trưởng thành, có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết,

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Huỳnh Văn T trình bày như sau:

Ông và bà Ngô Thị Kim G là vợ, chồng có đăng ký kết hôn. Qua yêu cầu xin ly hôn của bà G ông không có ý kiến ông chỉ yêu cầu được về thăm con và nếu con đồng ý cho ông và bà G ly hôn thì ông đồng ý để các con không trách móc gì ông. Ông thống nhất với bà G về thời gian ly thân là năm 2016 cho đến nay, nguyên nhân dẫn đến ly hôn theo ông là do tính tình không phù hợp.

Về con: Ông thống nhất với bà G là có 03 con chung như bà G trình bày. Khi ly hôn, ông tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của cháu K. Riêng cháu D và cháu H đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, riêng và nợ chung: Ông chưa có yêu cầu.

Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông bảo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Chấp nhận cho bà G được ly hôn với ông T. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Văn K, sinh ngày 14/11/2006 cho bà G nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Huỳnh Văn D, sinh ngày 15/10/1998 và Huỳnh Văn H, sinh ngày 07/9/2000 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tỏa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông T đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà G và ông T theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà G yêu cầu ly hôn với bị đơn ông T nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn. Do bị đơn có nơi thường trú tại huyện V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim G và ông Huỳnh Văn T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm năm 2012 và có đăng ký kết hôn. Bả G xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do do ông T thường xuyên thô lỗ, cọc cằn và sử dụng vũ lực khi vợ chồng cự cãi, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Vì vậy. Nay bà G xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên bà yêu cầu xin ly hôn với ông T. Biên bản xác minh ngày 17/11/2022 của trưởng Khu phố 6, phường A, thành phố R, Tỉnh Kiên Giang thì việc bà G và ông T có sự bất đồng ý kiến và xung đột với nhau và đã sống ly thân từ tháng năm 2016 cho đến nay. Trong thời gian ly thân ông T cũng không có biện pháp cụ thể nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng và cũng không có ý kiến gì để phản đối yêu cầu ly hôn của bà G. Hơn nữa, bà G vẫn cương quyết xin ly hôn với ông T.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà G có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà G và ông T có có ba con chung tên Huỳnh Văn D, sinh ngày 15/10/1998, Huỳnh Văn H, sinh ngày 07/9/ 2000 và Huỳnh Văn Kh, sinh ngày 14/11/2006. Bà G xin được nuôi đường cháu K và cháu Kh cũng có nguyện vọng ở với bà G, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu K, Hội đồng xét xử giao cháu Khánh cho bà G nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Riêng cháu Huỳnh Văn Dsinh ngày 15/10/1998 và Huỳnh Văn H, sinh ngày 07-9/2000 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Xét, bà G không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ kiến khác.

Về tài sản chung: Bà G xác định không có, ông T chưa yêu cầu nên

Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà G xác định không có, ông T chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét,

Về ăn phi: Bà Ngô Thị Kim G phải chịu án phí theo quy định pháp luật. [7] Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụng cũng như ý kiến về việc giải quyết vụ án là có căn cứ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; các điều 28,35,39; khoản 1, 2 điều 227; khoản 1, 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Ngô Thị Kim G được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.

2. Về con chung. Giao cháu Huỳnh Văn Kh, sinh ngày 14/11/2006 cho bà Ngô Thị Kim G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Huỳnh Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà G chưa yêu cầu. Riêng châu Huỳnh Văn D, sinh ngày 15/10/1998 và Huỳnh Văn H, sinh ngày 07/9/2000 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết Ông Huỳnh Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Ngô Thị Kim G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà G đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phi theo biên lai thu số 0006377 ngày 05/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Vậy bà G đã thi hành xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Bà G và ông T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tổng đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Cần Thơ;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

- VKSND huyện V;

- Chi cục THADS huyện V;

- Cơ quan thực hiện việc ĐKKH

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đặng Nhật Trường

Cỡ chữ