vanban.org

Bản án 80/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà A về việc "Ly hôn" với ông B.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà A được ly hôn với ông B. Về con chung: Giao cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng con chung C, sinh ngày 19/3/2013, D, sinh ngày: 13/8/2014 và E, sinh ngày 11/01/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hanh - That"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà A về việc "Ly hôn" với ông B.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11-8-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Diễm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Tâm

2. Ông Nguyễn Hoàng Phong

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân – Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thoa – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà A, sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp F xã G, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông B, sinh năm 1980

Địa chỉ: số 256/4 ấp H xã K, huyện T, tỉnh Long An.

(các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/6/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà A trình bày:

Do mai mối nên bà và ông B đã xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có tổ chức cưới hỏi, được gia đình 2 bên đồng ý và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T vào ngày 04/3/2013.

Sau khi cưới bà và ông Thật sống chung gia đình ông B. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bà và ông B thường xuyên cãi nhau do tiền bạc, con cái. Từ năm 2018 bà và ông B không còn sống chung với nhau nữa. Từ đó đến nay bà và ông B không có gặp nhau, bà cũng không có ý muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nay bà xét thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên bà yêu cầu được ly hôn với ông B.

Về con chung: bà và ông B có 03 con chung tên C, sinh ngày 19/3/2013, D, sinh ngày: 13/8/2014 và E, sinh ngày 11/01/2017, hiện đang sống với ông B. Bà đồng ý để ông B tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung và bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông B trình bày:

Qua lời trình bày của bà A về thời gian, điều kiện kết hôn tôi thống nhất.

Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì trầm trọng đến mức bà A nộp đơn ly hôn, khoảng năm 2018 bà A đi làm xong bỏ nhà đi đến nay không về. Ông có gọi điện nhưng không liên lạc được, có đi tìm nhưng không gặp. Sau đó ông và bà A cũng có gặp nhau, ông cũng có ý muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng bà A không đồng ý. Nay trước yêu cầu ly hôn của bà A, ông không đồng ý.

Về con chung: ông và bà A có 03 con chung như bà A trình bày, hiện 03 con đang sống với ông. Trong trường hợp Tòa án xét xử cho ông và bà A ly hôn, ông yêu cầu được nuôi 03 con chung, không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Kim Thoa – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà A là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà A được ly hôn với ông B. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung C, sinh ngày 19/3/2013, D, sinh ngày: 13/8/2014 và E, sinh ngày 11/01/2017 cho ông B được tiếp tục nuôi dưỡng. Về phần cấp dưỡng nuôi con: bà A không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Chứng cứ mà bà A cung cấp trong vụ án là: Bản sao Trích lục kết hôn; Bản sao giấy khai sinh của con chung; Thông báo số định danh cá nhân của bà A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà A khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông B. Ông A cư trú tại xã K, huyện T, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Xét yêu cầu ly hôn của bà A, thấy rằng: bà A và ông B xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã K, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/3/2013 nên hôn nhân của bà A và ông B là hôn nhân hợp pháp. Theo bà A trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bà A và ông B thường xuyên cãi nhau do tiền bạc, con cái. Theo ông B thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì trầm trọng đến mức bà A nộp đơn ly hôn. Từ năm 2018 bà A và ông B không còn sống chung với nhau nữa. Nay bà A xét thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên bà A yêu cầu được ly hôn với ông B. Ông B cũng có ý muốn hàn gắn hạnh phúc nên không đồng ý ly hôn với bà A.

Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà A là có cơ sở chấp nhận vì trong quá trình chung sống bà A và ông B đã xảy ra mâu thuẫn, bà A và ông B không còn sống chung từ nằm 2018, không quan tâm, chăm sóc nhau. Về phía ông B, từ khi bà A nộp đơn khởi kiện đến nay, mặc dù ông B có ý muốn hàn gắn lại hạnh phúc nhưng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và căn cứ vào nguyên nhân mâu thuẫn mà các bên trình bày chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A là phù hợp.

Về con chung: bà A và ông B có 03 con chung tên C, sinh ngày 19/3/2013, D, sinh ngày: 13/8/2014 và D, sinh ngày 11/01/2017, hiện nay đang sống với ông B. Bà A đồng ý giao 03 con chung cho ông B tiếp tục nuôi dưỡng, ông B trình bày trong trường hợp Tòa án xét xử cho ly hôn, ông yêu cầu tiếp tục nuôi 03 con chung. Xét thấy hiện cuộc sống con chung đã ổn định, con chung vẫn phát triển bình thường. Tại Biên bản lấy lời khai cháu C và cháu D trình bày có nguyên vọng được sống chung với ông Bt. Do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao con chung C, D, E cho ông B được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về phần cấp dưỡng nuôi con: ông B không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con, bà A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà A và ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bà A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà A về việc "Ly hôn" với ông B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà A được ly hôn với ông B.

2. Về con chung: Giao cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng con chung C, sinh ngày 19/3/2013, D, sinh ngày: 13/8/2014 và E, sinh ngày 11/01/2017.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Toà án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Buộc bà A chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002551 ngày 07/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, bà A đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ