vanban.org

Bản án 80/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị T đối với anh Ngô Văn B, cho chị Phan Thị T ly hôn với anh Ngô Văn B.

Con chung: Giao cháu Ngô Thanh Dưng, sinh ngày 27/01/2010 cho anh Ngô Văn B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi, chị Phan Thị T phải cấp dưỡng hành tháng cho cháu Ngô Thanh Dưng với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng), thời hạn cấp dưỡng tính từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị T đối với anh Ngô Văn B, cho chị Phan Thị T ly hôn với anh Ngô Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:80/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 04-7-2022.
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly
hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.

2. Bà Lý Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Thông - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 tháng 6 và 04 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2022/QĐXXST –HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm: 1983;

- Bị đơn: Anh Ngô Văn B, sinh năm: 1978;

Cùng nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/01/2022, các biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;

- Nguyên đơn chị Phan Thị T bày: Chị T và anh B tiến đến hôn nhân do mai mối và được sự thống nhất gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2000 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 21/10/2008. Trong thời gian chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2008 phát sinh nhiều mâu Tẩn do bất đồng quan điểm sống, cự cải. Đến năm 2012 mâu Tẩn ngày càng trầm trọng hơn do kinh tế gia đình khó khăn, anh B đi làm không đưa tiền để chăm lo gia đình, thường hay uống rượu, chửi bới, đánh đập, đe dọa, nên chị T không thể chung sống với anh B và đã ly thân từ tháng 7/2021 cho đến nay. Con chung: Ngô Thanh K, sinh ngày 23/01/2001, Ngô Thanh D, sinh ngày 28/5/2003, đã thành niên, Ngô Thanh Dưng, sinh ngày 27/01/2010, hiện nay đang sống chung với anh B. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị Phan Thị T yêu cầu: Ly hôn với anh Ngô Văn B, con chung cháu Thanh K và anh Thanh D đã thành niên, thống nhất giao cháu Thanh Dưng cho anh B nuôi đưỡng, không cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn: Anh Ngô Văn B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh B không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của chị T, cũng như tham dự phiên hòa giải và phiên tòa 02 lần nên tòa án không T thập được lời khai, ý kiến của anh B về yêu cầu khởi kiện của chị T.

Tại phiên tòa chị T trình bày: Chị T và anh B mâu Tẩn do anh B thường hay ghen tuông, khi uống rượu kiếm chuyện chửi B, đánh đập chị T nhiều lần, muân Tẩn ngày càng trầm trọng nên không thể chung sống được với anh B, con chung Ngô Thanh K, sinh ngày 23/01/2001, Ngô Thanh D, sinh ngày 28/5/2003, đã thành niên, riêng cháu Ngô Thanh Dưng đang sống chung với anh B, cháu Dưng yêu cầu được anh B nuôi dưỡng nên chị T thống nhất giao cháu Dưng cho anh B chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành và thống nhất tự nguyện cấp dưỡng cho cháu Dưng mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến trưởng thành đủ 18 tuổi, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh B, con chung Ngô Thanh K, sinh ngày 23/01/2001 và Ngô Thanh D, sinh ngày 28/5/2003 đã thành niên, cháu Ngô Thanh Dưng ghi nhận sự tự nguyện của chị T thống nhất giao cháu Dưng cho anh B nuôi dưỡng và cấp dưỡng cho cháu Dưng mỗi tháng 1.000.000đ cho đến trưởng thành đủ 18 tuổi, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về pháp luật tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Ngô Văn B, hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ấp Bình T, xã T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên Tộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị T và anh B có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị T yêu cầu ly hôn với anh B, nên phát sinh tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị T có mặt, bị đơn anh B vắng mặt lần thứ 2 không nêu lý do chính đáng. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh B cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh B là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định, nhưng trong quá trình chung sống vợ chồng xuất phát từ mâu Tẩn bất đồng quan điểm sống, thường hay cự cải, do anh B ghen tuông, uống rượu và đe dọa đánh đập chị T, không quan tâm chăm sóc gia đình, dẫn đến mâu Tẩn ngày càng trầm trọng, anh chị và gia đình hai bên không tìm cách giải quyết, nên không thể hàn gắn đoàn tụ. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh B, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưởng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị T và anh B không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, mâu Tẩn trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị T và anh B đã ly thân từ tháng 7/2021 đến nay đã được 01 năm, anh B đã được Tòa án thông báo hòa giải 02 lần để tạo cơ hội cho anh chị hàn gắn tình cảm, nhưng anh B không đến, từ đó cho thấy anh B không muốn hàn gắn đoàn tụ với chị T.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị T đối với anh Ngô Văn B phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ngô Thanh K, sinh ngày 23/01/2001, Ngô Thanh D, sinh ngày 28/5/2003 đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với cháu Ngô Thanh Dưng, sinh ngày 27/01/2010 hiện nay đang sống chung với anh B và do anh B nuôi dưỡng, căn cứ nguyện vọng của cháu Dưng được sống chung với anh B và chị T cũng thống nhất giao cháu Dưng cho anh B nuôi dưỡng và thống nhất cấp dưỡng cho cháu Dưng mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy do chị T tự nguyện giao cháu Dưng cho anh B nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành và phù hợp với nguyện vọng của cháu Dưng, nên ghi nhận sự tự nguyện của chị T giao cháu Thanh Dưng cho anh B chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhâ gia đình.

Đối với chi phí cấp dưỡng nuôi con chị T tự nguyện cấp dưỡng cho cháu Dưng mỗi tháng là 1.000.000đ và anh B không có ý kiến hay yêu cầu đối với việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị T, về việc chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi cháu Ngô Thanh Dưng trưởng thành đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 04/7/2022, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn chị Phan Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, chị T phải nộp thêm số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Bị đơn anh Ngô Văn B không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, khoản 1 Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị T đối với anh Ngô Văn B, cho chị Phan Thị T ly hôn với anh Ngô Văn B.

2. Con chung: Giao cháu Ngô Thanh Dưng, sinh ngày 27/01/2010 cho anh Ngô Văn B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi, chị Phan Thị T phải cấp dưỡng hành tháng cho cháu Ngô Thanh Dưng với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng), thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 04/7/2022 cho đến khi cháu Ngô Thanh Dưng trưởng thành đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, chị Phan Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Phan Thị T không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Ngô Văn B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh chị Phan Thị T.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn chị Phan Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Phan Thị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai T tiền tạm ứng án phí số 0010085 ngày 18/4/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị T phải nộp thêm số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Bị đơn anh Ngô Văn B không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 04/7/2022). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ