vanban.org

Bản án 80/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Huỳnh N cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Huỳnh N được ly hôn với anh Lê Văn T. Về con chung: Cháu Lê Hoàng Quốc Thịnh, sinh ngày 16/02/2013, giao cho chị Trần Huỳnh N trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị Trần Huỳnh N không yêu cầu anh Lê Văn T cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Huỳnh N cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 80/2022/HNGĐ–ST
Ngày: 11-8-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiền

2. Ông Nguyễn Văn Hết

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 213/2022/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Huỳnh N, sinh năm 1989; HKTT: ấp B, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ liên lạc: ấp N, xã N1, huyện G, tỉnh Kiên Giang. (Xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Huỳnh N trình bày:

Chị và anh Lê Văn T kết hôn do quen biết. Anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang vào ngày 21/8/2010.

Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sống tại ấp Bình Thới, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Thời gian chung sống với nhau không có hạnh phúc, phát sinh nhiều vấn đề mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, ghen tuông vô cớ, anh T vô tâm, không an ủi, động viên, chia sẻ với chị khi giữa chị và mẹ chồng xảy ra mâu thuẫn. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân gia đình đã hòa giải nhưng không thành.

Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân với anh T được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh T có một con chung là cháu Lê Hoàng Quốc T1, sinh ngày 16/02/2013, hiện đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu con chung giao cho chị trực tiếp nuôi, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Lê Văn T vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm N sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Huỳnh N. Về hôn nhân: Chị N được ly hôn với anh T. Về con chung: Cháu Lê Hoàng Quốc T1, sinh ngày 16/02/2013, giao cho chị N được trực tiếp nuôi, ghi nhận chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Về chia tài sản: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Trần Huỳnh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lê Văn T và yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị N có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình, Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lê Văn T có nơi cư trú tại ấp B, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào quan hệ pháp luật của vụ án và nơi cư trú của bị đơn xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyễn đơn chị Trần Huỳnh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh T.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Trần Huỳnh N, Hội đồng xét xử nhận định: Chị N và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang vào ngày 21/8/2010. Hôn nhân của anh chị được xác lập trên tinh thần tự nguyện, tuân thủ đúng quy định pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong thời gian chung sống, chị N và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị N trình bày là do anh T không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, ghen tuông vô cớ, không quan tâm, an ủi, chia sẻ với chị khi chị và mẹ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2020 cho đến nay, đã hòa giải Nng không thành. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh T đến Tòa tham gia hòa giải để tìm cách hàn gắn, khắc phục mâu thuẫn cho anh chị Nng anh T đều không đến, cũng không có văn bản nêu ý kiến hay phản đối yêu cầu ly hôn của chị N. Điều đó chứng tỏ anh T cũng không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ. Trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa, chị N kiên quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T. Từ các cơ sở trên cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị N và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét về con chung, Hội đồng xét xử nhận định: Chị N và anh T có một con chung là cháu Lê Hoàng Quốc T1, sinh ngày 16/02/2013, hiện đang sống chung với chị N. Chị N yêu cầu sau khi ly hôn, con chung giao cho chị trực tiếp nuôi, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu T1 đã ở chung với chị N từ trước đến nay, đang được nuôi dưỡng, chăm sóc, phát triển ổn định, cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Anh T lại không đưa ra yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con là ý chí tự nguyện của chị nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: chị N trình bày không có, anh T không đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Huỳnh N có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Huỳnh N cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Huỳnh N được ly hôn với anh Lê Văn T.

Về con chung: Cháu Lê Hoàng Quốc Thịnh, sinh ngày 16/02/2013, giao cho chị Trần Huỳnh N trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị Trần Huỳnh N không yêu cầu anh Lê Văn T cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.

Về nợ chung: chị N trình bày không có, anh T không đưa ra yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí đối với yêu cầu ly hôn: chị Trần Huỳnh N có nghĩa vụ chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng Nng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007866 ngày 09 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ