vanban.org

Bản án 80/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng hụi"
  • Tòa quyết gì? 39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 80/2022/DS-ST
Ngày: 23/8/2022
“V/v Tranh chấp Hợp đồng góp
hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Nhàn;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới,

tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 164/2022/TLST-

DS ngày 17 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 383/2022/QĐXXST-DS ngày

12 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 359/2022/QĐST-DS ngày

03 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp T, xã TM,

huyện CM, tỉnh An Giang; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp TQ, xã TM,

huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm

1966; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt (do có ý kiến

đề nghị vắng mặt tại văn bản ghi nhận lời khai ngày 02/6/2022).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X trình bày, bà Nguyễn Thị X có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị Đ làm chủ, cụ thể:

- Tham gia 02 dây hụi 1.000.000 khởi khui ngày 10/11/2019 âm lịch, có

25 hụi viên, bà X, mỗi dây hụi tham gia 01 chân và chầu được 18 lần hụi sống, hụi này chưa mảng, đến ngày 28/3/2021 thì bà Đ kêu vỡ hụi, nên tôi chưa hốt hụi, có phiếu hụi ghi ngày 10/11/2019al. Tổng số tiền đã chầu của 02 dây hụi là 26.500.000đồng, lời của 02 dây hụi là 9.500.000đồng.

Ngày 28/3/2021 bà Đ tuyên bố bể hụi. Như vậy, tổng số tiền hụi sống bà

X đã chầu cho bà Đ tại 02 dây hụi chân hụi là 26.500.000đồng.

Nay bà X xác định, số tiền bà X yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn

Văn T phải liên đới trả cho bà X số tiền hụi đã chầu của cả 02 dây hụi là 26.500.000đồng, tại đơn khởi kiện yêu cầu 35.000.000đồng, nên rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 8.500.000đồng.

Tôi không đồng ý bà Đ đề nghị trả hàng tháng 500.000đồng/tháng, mà bà

Đ, ông T phải thanh toán cho tôi số tiền là 26.500.000đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Tôi có làm chủ hụi, trong đó bà

Nguyễn Thị X là hụi viên tại các dây hụi, cụ thể:

- Dây hụi thứ I: hụi 1.000.000 đồng, khui hụi ngày 10/11/2019 (âm lịch),

dây hụi có 25 hụi viên, bà X tham gia 01 chân (phần) hụi; bà X chầu được 18 lần (18 tháng) hụi sống; số tiền đã chầu là 13.210.000 đồng, bà X lời số tiền là 4.790.000đồng.

- Dây hụi thứ II: hụi 1.000.000 đồng, khởi khui ngày 10/11/2019 âm lịch,

dây hụi gồm 25 hụi viên, bà X tham gia 01 chân (phần) hụi và tôi đã chầu được 18 lần (18 tháng); số tiền vốn đã chầu là 13.130.000đồng, tiền lời là 4.870.000đồng.

Tổng số tiền của 02 dây hụi vốn đã chầu là 26.340.000đồng, bà X yêu cầu

tôi và ông T phải trả số tiền là 26.500.000đồng, tôi đồng ý với số tiền này như bà X đã khai.

Đối với các dây hụi, chồng tôi là ông Nguyễn Văn T có biết, có những lúc

thu giúp hụi cho tôi, tiền hụi cũng sử dụng chung vào sinh hoạt gia đình, cũng như phát triển kinh tế gia đình.

Tôi đề nghị trả dần hàng tháng với số tiền là 500.000đồng/tháng cho bà X.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong

quá trình giải quyết vụ án, nên không ghi nhận được ý kiến tại các phiên hòa giải. Tuy nhiên, tại biên bản ghi nhận lời khai, do cán bộ Tòa án thực hiện ghi nhận ý kiến của ông T; ông T đã trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Đ là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật từ năm 1983 đến nay, ông có nhận và biết được Tòa án mời làm việc do các nguyên đơn với tư cách là hụi viên

khởi kiện vợ ông bà Đ là chủ hụi, do sau khi thực hiện khui hụi không thực hiện

trả tiền hụi cho các hụi viên; ông có biết bà Đ là chủ hụi nhưng không biết việc

ai là hụi viên, cũng như bà Đ khi thu tiền hụi, trả tiền hụi cho ai ông hoàn toàn

không nắm được, cũng như không thực hiện thu hụi của các hụi viên thay bà Đ.

Bà Đ khi thu tiền hụi, có tiền lời bao nhiêu ông không biết, bà Đ là vợ ông, là

chủ hụi từ khoảng hơn 10 năm nay, việc bà Đ bể hụi ông biết, do bà Đ có báo

cho ông, ông không đồng ý liên đới với bà Đ do ông không biết các hụi viên,

không thu hụi, không biết bà Đ dùng tiền hụi vào mục đích gì; ngoài ra bà Đ còn

bị rất nhiều người giựt hụi, ông phải T phụ bà Đ trả thay, ông biết việc đưa ông

tham gia tố tụng, nhưng đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất, lấy lời

khai và tại phiên tòa.

Tại phiên tòa:

- Bà Nguyễn Thị X, trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai

đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho

Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình.

- Bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời trình bày phù hợp

với lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án.

- Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nên không ghi nhận được ý

kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,

Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn

bà X đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 Điều 234 của Bộ luật tố

tụng dân sự; bị đơn bà Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện

đung các quy định tại Điều 70, 72. Tuy nhiên tại phiên tòa vắng mặt theo quy

định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Bà X khởi kiện là 02 dây hụi, khu cùng ngày

11/11/2019 âm lịch, bà Đ cũng thừa nhận còn nợ bà X 26.500.000đồng nên bà X

khởi kiện yêu cầu bà Đ trả 26.500.000đồng là có căn cứ, đối với việc bà Đ xin

trả dần hàng tháng, do bà X không đồng ý nên không có cơ sở xem xét. Trong

quá trình giải quyết, bà X rút lại yêu cầu khởi kiện đối với số tiền

8.500.000đồng, nên cần đình chỉ.

Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T liên đới với bà Đ trả số tiền

26.500.000đồng, thấy rằng trong thời gian bà Đ làm chủ hụi, bà Đ và ông T thừa

nhận là vợ chồng, chung sống cùng nhau. Mặt khác, bà Dài thừa nhận, việc chơi

hụi nhằm mục đích tạo thu nhập để phục vụ cuộc sống, sinh hoạt cho gia đình, ông T biết việc bà làm chủ hụi và đo khi ông T có thay bà Đ nhận tiền hụi của hụi viên đóng hụi. Vì vậy, có căn cứ xác định rằng, đây là số nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà

Nguyễn Thị X đối với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T; buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T liên đới trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền 26.500.000đồng; đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X với số tiền 8.500.000đồng.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 471 Bộ luật Dân

sự, Điều 27, 37 Luật Hôn nhan và gia đình, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị X khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ thanh toán tiền hụi,

bà Đ là người bị kiện đang cư trú tại địa bàn huyện Chợ Mới, giữa các bên công nhận có chơi hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị X, tham gia các dây hụi, do bà Đ làm chủ hụi, tại

đơn khởi kiện, cũng như tại biên bản hòa giải, biên bản ghi nhận lời khai, bà X và bà Đ đều thống nhất về dây hụi, ngày khởi khui hụi, số lần chầu hụi, số tiền đã chầu hụi, số tiền lời; thống nhất về số tiền tại các lần chầu hụi, tổng số tiền hụi sống tại 02 dây hụi ngày 10/11/2019 âm lịch đến nay bà Đ, ông T phải thanh toán là 26.500.000đồng, nên sự thống nhất này của các đương sự là sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy, giữa bà X và bà Đ có quan hệ chơi hụi, các bên đương sự tham

gia hụi là tự thỏa thuận, tự nguyện, không bị ép buộc, theo đó bà Đ là chủ hụi, các đương sự đã đối chiếu thống nhất số tiền hụi, các dây hụi nên có cơ sở xác định đến nay số tiền hụi do bà Đ làm chủ, còn thiếu của bà X với số tiền cả bà X và bà Đ thống nhất là 26.500.000đồng, nên Hội đồng xét xử thống nhất, việc bà X yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, lời trình bày của bà X phù hợp với lời trình bày của bà Đ, cũng như số tiền, số lần khởi khui hụi các đương sự đều thống nhất; theo đơn yêu cầu khởi kiện của bà X, yêu cầu bà Đ và ông T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền nợ hụi, thì thấy: việc ông T cho rằng, ông không có trách nhiệm liên đới với bà Đ, vì không biết bà Đ dùng tiền vào việc gì, nhưng ông lại biết việc bà Đ là chủ hụi hơn 10 năm nay, ông T cũng biết việc bà Đ vỡ

hụi, cũng phụ bà Đ trong việc trả tiền hụi đối với người chơi hụi (Biên bản lấy

lời khai ngày 02/6/2022 đối với ông T), bà Đ cũng khẳng định việc làm chủ hụi,

tiền lời hụi bà dùng chung vào mục đích sinh hoạt gia đình. Do đó, có cơ sở xác

định ông T hoàn toàn biết việc bà Đ là chủ hụi, biết việc bà Đ là người T nhận

tiền từ các hụi viên, nên ông cho rằng không có trách nhiệm liên đới là không có

căn cứ, cả ông T và bà Đ đều thừa nhận là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo

quy định pháp luật, bà Đ và ông T cùng sống chung nhà, bà Đ có dùng tiền chơi

hụi vào mục đích chung trong sinh hoạt gia đình theo như lời trình bày của bà Đ,

nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X về việc buộc bà Đ, ông T

phải có trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia

đình và thực hiện nghĩa vụ của hụi viên, người tham gia hụi theo quy định tại

Nghị định số 19/20219/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ.

Do đó, bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà X số

tiền hụi đến nay chưa thanh toán là: 26.500.000đồng.

Tại đơn khởi kiện, bà X yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Đ, ông

T phải thanh toán số tiền là 35.000.000đồng, nhưng quá trình giải quyết vụ án bà

rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 8.500.000đồng, việc bà X rút một

phần yêu cầu khởi kiện hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, nên Hội đồng

xét xử thống nhất đình chỉ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại các Điều 217, 244

của Bộ luật Tố tụng dân sự với số tiền 8.500.000đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X được chấp nhận, nên bà X

được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí tương ứng với số tiền

26.500.000đồng, nhưng do bà Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới thanh toán

nợ, nên cả bà Đ, ông T phải liên đới chịu án phí theo quy định của Bộ luật tố

tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo đúng quy

định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 357, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về

hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị X đối với bà Nguyễn Thị Đ và

ông Nguyễn Văn T;

- Buộc bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả bà Nguyễn

Thị X số tiền 26.500.000đồng (hai mươi sáu triệu, năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối

với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ xét xử đối với số tiền 8.500.000đồng (tám triệu, năm trăm

nghìn đồng).

3. Về án phí sơ thẩm:

- Hoàn trả bà Nguyễn Thị X số tiền 875.000đồng (tám trăm bảy mươi lăm

nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004642 ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chợ Mới cấp.

- Bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu án phí dân sự

sơ thẩm với số tiền 1.325.000đồng (một triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo:

- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị

X có mặt, có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

- Riêng bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong

thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a,

7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ