- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Thiện T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự và thấy rằng; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN ––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2021/HS-ST Ngày 10-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và bà Võ Thị Hồng Trà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lương Công Trứ – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Dương Thiện T, sinh năm 1979; Nơi ĐKTT và chỗ ở: đường M, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đang sinh hoạt tại Chi bộ khu phố 1 thuộc Đảng bộ phường P, thành phố T; con ông Dương Th, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị C (chết); Vợ: Trần Thị N, sinh năm 1985; Có 03 con: Lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Văn D, sinh năm 1967; Địa chỉ: đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Thị Thanh Đ, sinh năm 1958; Địa chỉ: đường M, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Tống Thị N, sinh năm 1963; Địa chỉ: đường M, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Huỳnh Thanh L, sinh năm 1988; Địa chỉ: đường M, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
4. Huỳnh Thanh H, sinh năm 1979; Địa chỉ: đường M, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 17/3/2021, Dương Thiện T cùng với bà Nguyễn Thị Thanh Đ, Tống Thị N ngồi uống nước trà cửa nhà anh Huỳnh Thanh L tại đường M, phường P, thành phố T, thì lúc này ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967 trú tại đường H, phường P, thành phố T đến ngồi cùng uống trà. Trong lúc uống trà, giữa T và D xảy ra mâu thuẫn, D dùng ly trà tạt vào mặt T, T đứng dậy lấy cái ly thuỷ tinh đang để trên bàn cầm trên tay phải đánh trúng 01 cái vào vùng trán của D gây thương tích, rồi T bỏ chạy, D cầm ly thuỷ tinh ném theo T nhưng không trúng, sau đó D đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên điều trị thương tích. Ngày 06/7/2021, Nguyễn Văn D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Bản giám định Pháp y về thương tích số 174/TgT ngày 14/6/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Nguyễn Văn D bị tác động bởi vật có cạnh gây nên thương tích tỷ lệ 06%.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nguyên nhân dẫn đến sự việc có một phần lỗi của bị hại.
Về vật chứng vụ án: Tạm giữ 01 đĩa DVD.
Về dân sự: Bị cáo đã tự nguyện nộp 2.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra để bồi thường thiệt hại.
Tại Bản Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 06/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố bị cáo Dương Thiện T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với Dương Thiện T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 06 – 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm – 01 năm 06 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương nơi cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Trả lại cho bị cáo 2.000.000 đồng. Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu giữ 01 đĩa DVD tại hồ sơ vụ án.
Bị cáo Dương Thiện T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Nguyễn Văn D trình bày: Không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ được. Đủ cơ sở để kết luận: Ngày 17/3/2021 tại đường M, phường P, thành phố T, bị cáo Dương Thiện T đã cầm ly thuỷ tinh đánh trúng vào vùng trán của ông Nguyễn Văn D gây ra thương tích 06% là thuộc trường hợp phạm tội dùng hung khí nguy hiểm nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 06/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện nộp 2.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra để bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi của bị hại; bà ngoại được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và cậu ruột là liệt sĩ nên cần áp dụng các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0002303 ngày 20/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T. Tuy nhiên, tại phiên toà bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo số tiền trên.
Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD vì là chứng cứ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Thiện T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Dương Thiện T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương nơi cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Trả lại cho bị cáo Dương Thiện T số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tại Biên lai thu tiền số 0002303 ngày 20/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.
Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD vì là chứng cứ vụ án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo Dương Thiện T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh P; - VKSND tỉnh P; - VKSND TP. T; - Cơ quan CSĐT Công an TP. T; - Chi cục THADS TP. T; - Sở Tư pháp tỉnh P; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Vân |