vanban.org

Bản án 80/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 04/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lâm Tr, phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: bị cáo Lâm Tr 9 (chín) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Tr phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lâm Tr, phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2021/HS-ST
Ngày: 04 – 10 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phước.

Bà Hà Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Lâm Tr, sinh ngày 12/10/1990 tại Sóc Trăng. Đăng ký thường trú: Khóm B1, Phường T, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ và bà Lâm Thị M (đã chết); vợ: không; con: 01 người, sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/7/2021 (có mặt).

- Bị hại: Ông Phạm Chí H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khóm N, Phường B, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Tăng Bá Ch, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khóm H, Phường M, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Tr là người không có nghề nghiệp và nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng. Tr đã lén lút lấy trộm tài sản của người khác cụ thể như sau:

Vào khoảng 00 giờ, ngày 02 tháng 06 năm 2021, Tr một mình đạp xe đi từ nhà khóm B1, phường T, thành phố ST đi đến hẻm số A phường B, thành phố ST để tìm tài sản lấy trộm. Khi Tr đến nhà trọ “C” thì Tr quan sát thấy nhà trọ không có người trong coi và tại phòng số D của nhà trọ cửa sổ đang được mở, nên Tr nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Với ý định như vậy, Tr quan sát phía bên ngoài có gắn camera quan sát nên Tr đã lấy một cây tre có sẵn tại đây và lấy một tấm vải gắn vào khúc cây tre để lên camera quan sát nhằm mục đích che camera lại, sau đó Tr đi đến cửa sổ phòng số D, Tr đứng phía bên ngoài quan sát vào trong nhìn thấy có 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đen của anh Phạm Chí H đang được cắm sạc trong phòng, còn anh H thì đang nằm trên võng để ngủ, nên Tr đã dùng ổ khóa khóa cửa ngoài phòng của anh H, sau đó, lén lút dùng cây che có gắn một cái móc sắt dùng để móc điện thoại của anh H, sau khi lấy trộm được điện thoại Tr đã đem về nhà cất giấu đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Tr đã đem đi đến tiệm điện thoại Ch, tại khóm H, phường M, thành phố ST bán cho anh Tăng Bá Ch với giá 1.400.000 đồng, sau khi có được tiền Tr đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 109 ngày 18 tháng 06 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố ST kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đen, đã qua sử dụng, có giá trị sử dụng còn lại là 70%, có giá 3.353.000 đồng.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ được 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xe đạp mini màu trắng, có dán chữ Windows, phía trước có rổ màu nâu; 01 (một) cây tre có tổng chiều dài 02 mét; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu “Viet – Tiep”, có màu vàng lợt, đã bị bong tróc, rỉ sét, móc ổ khóa đã bị cắt rời; 01 (một) ốp lưng điện thoại, bằng nhựa màu xanh; 01 (một) ốp lưng điện thoại, bằng nhựa màu đen – nâu; 01 (một) ốp lưng điện thoại màu đen, phía sau có in chữ REMAX; 01 (một) ốp lưng điện thoại màu tím – xanh, phía sau có in chữ HAPPY; 04 (bốn) sợi dây cáp điện thoại; 01 (một) cuộn băng keo dính màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) móc khóa có gắn cây lấy sim và hình con thú bằng nhựa; 01 (một) bốp da màu nâu đã qua sử dụng; 01 (một) cái bóp da màu đen, có in chữ Lewis trên thân bóp; 01 (một) dụng cụ sử dụng ma túy đá, bằng thủy tinh, trong suốt; 11 (mười một) sim điện thoại, trong đó có 03 sim điện thoại có ghi dòng chữ mobifone; 03 sim điện thoại có ghi dòng chữ Viettel, 01 sim điện thoại có ghi dòng chữ “VII” màu cam, 01 sim điện thoại có ghi dòng chữ Beeline; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng vụ án bằng cách trao trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đen, đã qua sử dụng cho anh Phạm Chí H; 01 (một) chiếc xe đạp mini màu trắng, có dán chữ Windows, phía trước có rổ màu nâu cho anh Lâm S.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại ông Phạm Chí H đã nhận được lại tài sản, không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Tăng Bá Ch yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.400.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường, nhưng hiện nay chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKS-TPST ngày 09/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Lâm Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Lâm Tr và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Lâm Tr phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm Tr; tài sản bị cáo chiếm đoạt được thu giữ kịp thời và trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn; bị cáo là người dân tộc Khmer, bị hại H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự theo quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) cây tre có tổng chiều dài 02 mét, đã qua sử dụng;

- 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu “Viet – Tiep”, có màu vàng lợt, đã bị bong tróc, rỉ sét, móc ổ khóa đã bị cắt rời, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cuộn băng keo dính màu đen, đã qua sử dụng;

- 01 (một) dụng cụ sử dụng ma túy đá, bằng thủy tinh, trong suốt, đã qua sử dụng;

* Trả lại cho bị cáo các tài sản gồm:

- 01 (một) ốp lưng điện thoại, bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) ốp lưng điện thoại, bằng nhựa màu đen – nâu, đã qua sử dụng;

- 01 (một) ốp lưng điện thoại màu đen, phía sau có in chữ REMAX, đã qua sử dụng;

- 01 (một) ốp lưng điện thoại màu tím – xanh, phía sau có in chữ HAPPY, đã qua sử dụng;

- 04 (bốn) sợi dây cáp điện thoại, đã qua sử dụng;

- 01 (một) móc khóa có gắn cây lấy sim và hình con thú bằng nhựa, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bốp da màu nâu đã qua sử dụng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cái bóp da màu đen, có in chữ Lewis trên thân bóp, đã qua sử dụng;

- 11 (mười một) sim điện thoại, trong đó có 03 sim điện thoại có ghi dòng chữ mobifone; 03 sim điện thoại có ghi dòng chữ Viettel, 01 sim điện thoại có ghi dòng chữ “VII” màu cam, 01 sim điện thoại có ghi dòng chữ Beeline, tất cả đều qua sử dụng;

- 01 (một) ổ khóa bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Tăng Bá Ch số tiền 1.400.000 đồng.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại H trình bày: khi bị cáo đi trộm có dùng thủ đoạn xảo nguyệt là lấy ổ khóa khóa cửa ngoài của bị hại, hành vi này của bị cáo rất nguy hiểm cho bị hại, sau đó, bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Tăng Bá Ch được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, việc vắng mặt ông Ch không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Lâm Tr thừa nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên vào khoảng 00 giờ, ngày 02 tháng 06 năm 2021, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đen của ông Phạm Chí H tại phòng số D, nhà trọ C phường B, thành phố ST. Bị cáo đã nhận được kết luận định giá tài sản bị cáo không có ý kiến, bị cáo thấy hành vi của bị cáo sai và xin giảm nhẹ hình phạt.

Lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy, bị cáo là người trưởng thành, thể hiện là người bình thường không bị mắc bệnh lý về tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nên đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vào khoảng 00 giờ ngày 02/6/2021 tại phòng số D, nhà trọ C phường B, thành phố ST, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đen của ông Phạm Chí H, có giá trị 3.353.000 đồng. Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của anh H, là hành vi được pháp luật hình sự quy định là tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về Tội Trộm cắp tài sản.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm Tr; tài sản bị cáo chiếm đoạt được thu giữ kịp thời và trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn; bị cáo là người dân tộc Khmer, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù là phù hợp.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra đã thu giữ: 01 (một) cây tre có tổng chiều dài 02 mét, đã qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu “Viet – Tiep”, có màu vàng lợt, đã bị bong tróc, rỉ sét, móc ổ khóa đã bị cắt rời, đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo dính màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) dụng cụ sử dụng ma túy đá, bằng thủy tinh, trong suốt, đã qua sử dụng. Đây là các công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và sử dụng ma túy, giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với các tài sản khác không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên giao trả lại cho bị cáo, gồm: 01 (một) ốp lưng điện thoại, bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) ốp lưng điện thoại, bằng nhựa màu đen – nâu, đã qua sử dụng; 01 (một) ốp lưng điện thoại màu đen, phía sau có in chữ REMAX, đã qua sử dụng; 01 (một) ốp lưng điện thoại màu tím – xanh, phía sau có in chữ HAPPY, đã qua sử dụng; 04 (bốn) sợi dây cáp điện thoại, đã qua sử dụng; 01 (một) móc khóa có gắn cây lấy sim và hình con thú bằng nhựa, đã qua sử dụng; 01 (một) bốp da màu nâu đã qua sử dụng; 01 (một) cái bóp da màu đen, có in chữ Lewis trên thân bóp, đã qua sử dụng; 11 (mười một) sim điện thoại, trong đó có 03 sim điện thoại có ghi dòng chữ mobifone; 03 sim điện thoại có ghi dòng chữ Viettel, 01 sim điện thoại có ghi dòng chữ “VII” màu cam, 01 sim điện thoại có ghi dòng chữ Beeline, tất cả đều đã qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Bị hại ông Phạm Chí H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với ông Tăng Bá Ch yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.400.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Ch số tiền 1.400.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135,136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và đề nghị mức hình phạt, áp dụng các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Lâm Tr, phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Xử phạt: bị cáo Lâm Tr 9 (chín) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

* Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) cây tre có tổng chiều dài 02 mét, đã qua sử dụng;

- 01 (một) ổ khóa nhãn hiệu “Viet – Tiep”, có màu vàng lợt, đã bị bong tróc, rỉ sét, móc ổ khóa đã bị cắt rời, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cuộn băng keo dính màu đen, đã qua sử dụng;

- 01 (một) dụng cụ sử dụng ma túy đá, bằng thủy tinh, trong suốt, đã qua sử dụng;

* Trả lại cho bị cáo các tài sản gồm:

- 01 (một) ốp lưng điện thoại, bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) ốp lưng điện thoại, bằng nhựa màu đen – nâu, đã qua sử dụng;

- 01 (một) ốp lưng điện thoại màu đen, phía sau có in chữ REMAX, đã qua sử dụng;

- 01 (một) ốp lưng điện thoại màu tím – xanh, phía sau có in chữ HAPPY, đã qua sử dụng;

- 04 (bốn) sợi dây cáp điện thoại, đã qua sử dụng;

- 01 (một) móc khóa có gắn cây lấy sim và hình con thú bằng nhựa, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bốp da màu nâu đã qua sử dụng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cái bóp da màu đen, có in chữ Lewis trên thân bóp, đã qua sử dụng;

- 11 (mười một) sim điện thoại, trong đó có 03 sim điện thoại có ghi dòng chữ mobifone; 03 sim điện thoại có ghi dòng chữ Viettel, 01 sim điện thoại có ghi dòng chữ “VII” màu cam, 01 sim điện thoại có ghi dòng chữ Beeline, tất cả đều qua sử dụng;

- 01 (một) ổ khóa bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng.

(Vật chứng nêu trên đang được quản lý tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).

4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo Lâm Tr bồi thường cho ông Tăng Bá Ch số tiền 1.400.000 (một triệu, bốn trăm ngàn) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lâm Tr phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Báo cho bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ