- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2021/HS-ST Ngày 27-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vui.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hùng Chương.
2. Ông Nguyễn Hồng Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi – Thư ký Tòa án nh n d n huyện Bến Cầu, tỉnh T y Ninh.
- i di n i n ki m sát nh n d n huy n n ầu, tỉnh T y Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nh n d n huyện Bến Cầu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 23-8-2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 16-5-2001, tại tỉnh T y Ninh; Nơi đăng ký nh n khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh T y Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ văn hóa: 01/12; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc N (chết) và bà Lê Thị Mỹ L; Anh, chị, em ruột: Có 01 người; Vợ, Con: Chưa có; Tiền án: Không có; Tiền sự: 06 tiền sự; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày từ ngày 30-7-2021 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại:
1. Anh Phan Hoàng K, sinh năm: 1981. (Vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Kim B, sinh năm: 1965. (Vắng mặt).
3. Chị Nguyễn Thị Phương H, sinh năm: 1987. (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh T y Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 08-6-2021, bị cáo Nguyễn Ngọc T đi bộ từ nhà thuộc khu phố 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh T y Ninh đến khu phố 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh T y Ninh để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến vườn dưa lưới của anh Phan Hoàng K thấy không có người trông coi, bị cáo T lén lút vào bên trong và phát hiện có 01 (một) mô tơ bơm nước hiệu Super nên bị cáo T tháo mô tơ để lấy mang đi bán. Khi chuẩn bị mang đi thì bị anh K phát hiện, T bỏ mô tơ lại bỏ chạy thoát về nhà. Sau đó, anh K trích xuất camera và biết người lấy trộm mô tơ bơm nước là bị cáo T nên trình báo Công an thị trấn Bến Cầu. Đến ngày 09/6/2021 Công an thị trấn Bến Cầu mời bị cáo T đến trụ sở làm việc và thừa nhận hành vi trộm cắp của mình. Nên Công an thị trấn Bến Cầu lập hồ sơ chuyển đến Công an huyện Bến Cầu xử lý.
Qua điều tra, bị cáo T khai nhận: Ngoài lần trộm cắp mô tơ bơm nước của anh K thì bị cáo T còn thực hiện 02 (hai) vụ trộm cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 28-3-2021, Nguyễn Thành Được rủ bị cáo T đi đến khu vực nhà Được thuộc khu phố 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh T y Ninh trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu sài, bị cáo đồng ý và cùng với Được đi đến nhà bà Nguyễn Thị Kim B để trộm gà. Đến nơi Được kêu bị cáo T canh đường, Được đi ra phía sau nhà bà B để trộm gà. Sau khi trộm được 02 con gà chạ trọng lượng khoảng 1,5kg thì Được và bị cáo T mang đi bán được 100.000 đồng chia nhau tiêu xài.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 26-5-2021, bị cáo T đến nhà chị H, anh Nghĩa thấy không có ai nên bị cáo vào bắt trộm 01 (một) con gà che, khoảng 0,7kg nhốt trong bội sắt nhỏ. Sau đó, bị cáo mang đi bán cho Tuấn Mụn (không rõ địa chỉ) được 150.000 đồng, lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Theo Kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐGTTHS ngày 25-6-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Cầu, tỉnh T y Ninh kết luận: Thời điểm ngày 08-6-2021, 01 (một) máy bơm nước hiệu super, loại cánh bơm đồng và cốt inox 304, công suất 01HP, kích thước 0,34m x 0,16 m, trị giá 1,250.000 (một triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng; Thời điểm ngày 26-5-2021, 01 (một) con gà che trống, loại gà ăn thịt, trọng lượng 0,7 kg trị giá 82.250 (tám mươi hai nghìn hai trăm năm mươi) đồng; Thời điểm ngày 28-3-2021, 02 (hai) con gà mái, loại gà ăn thịt, trọng lượng 1,5 kg, trị giá 135.000 (một trăm ba mươi lăm nghìn) đồng. Tổng trị giá tài sản là 1.467.250 đồng.
Kết quả thu giữ vật chứng: 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, viền đế màu đỏ, quai dép sọc đỏ trắng, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24-8/2021 của Chi cục thi hành án d n sự huyện Bến Cầu).
Về bồi thường thiệt hại: Anh Phan Hoàng K đã nhận lại tài sản và anh K, chị H và bà B không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSBC ngày 20-8-2021 của Viện kiểm sát nh n d n huyện Bến Cầu, tỉnh T y Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 06 đến 09 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có tài sản và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Ghi nhận anh K đã nhận lại tài sản và anh K, chị H và bà B không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Ý kiến của các bị hại: Yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất ăn năn hối hận nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Mặc dù ngày 07/3/2021 bị cáo Nguyễn Ngọc T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng từ ngày 28/3/2021 đến ngày 08/6/2021, tại khu vực khu phố 2, 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh T y Ninh. Bị cáo T đã tiếp tục lén lút lấy trộm 02 con gà mái của bà Nguyễn Thị Kim B; 01 con gà che của chị Nguyễn Thị Phương H và 01 máy mô tơ bơm nước của anh Phan Hoàng K. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.467.250 đồng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác. Do đó hành vi của bị cáo T đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những g y ra bất bình trong dư luận, mà còn g y ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, g y ra t m lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nh n d n trong việc giữ gìn và bảo vệ tài sản. Do đó, khi quyết định hình phạt cần xem xét áp dụng một mức án phù hợp để răn đe, giáo dục đối với bị cáo trở thành công d n tốt, có ý thức chấp hành pháp luật khi hòa nhập cộng đồng, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tuy nhiên bị cáo có tiền sự và nh n th n xấu: Quyết định số 36/QĐ-XPHC ngày 29/11/2018, Công an thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Quyết định số 04/QĐ-XPHC ngày 07/01/2019, Công an thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định số 31/QĐ-XPHC ngày 07/3/2019, Công an thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt); Quyết định số 44/QĐ-XPHC ngày 07/5/2019, Công an thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định số 53/QĐ-TA ngày 06/11/2019, Tòa án nh n d n huyện Bến Cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đã chấp hành xong); Quyết định số 38/QĐ-XPHC ngày 07/3/2021, Công an xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; mặc dù phạm tội nhưng g y thiệt hại không lớn và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về bồi thường thiệt hại: Anh Phan Hoàng K đã nhận lại tài sản và anh K, chị H và bà B không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, viền đế màu đỏ, quai dép sọc đỏ trắng, đã qua sử dụng. Là của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với hành vi Nguyễn Thành Đ cùng bị cáo T trộm cắp 02 con gà của bà Nguyễn Thị Kim B trị giá 135.000 đồng. Xét thấy, Được chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên Công an huyện Bến Cầu chuyển Công an thị trấn Bến Cầu xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp theo quy định pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Do Hội đồng xét xử kết luận bị cáo có tội và bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 30/7/2021.
2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo: 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, viền đế màu đỏ, quai dép sọc đỏ trắng, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu).
3. Án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nh n d n tỉnh Tây Ninh. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự, thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án d n sự.
TM. HỘI Đ NG X T X S TH M
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh; - VKSND cùng cấp; - VKSND tỉnh; - Cơ quan THAHS có thẩm quyền; - Nhà tạm giữ-CQCSĐT.Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Vui |