vanban.org

Bản án 80/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Văn M.

Buộc bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P có nghĩa vụ trả cho ông Tạ Văn M số tiền hụi đã đóng bằng 7.280.000đ ( bảy triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng ). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án ) cho đến khi thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "M+H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2021/DS-ST
Ngày: 01/12/2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng
góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM

- Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa: Ông Hồ Thanh Tòng

Caùc Hoäi thaåm nhaân daân:

1. Ông Huỳnh Văn Hồng

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm

- Thö kyù phieân toøa: Bà Lý Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kieåm saùt nhaân daân huyeän Vuõng Lieâm tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 210/2020/TLST-DS ngày 13/10/2020 về “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2021/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2021, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Tạ Văn M, sinh năm 1972

- Bị đơn: Bà Trang Thị H, sinh năm 1964 ( vắng )

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1969. ( vắng )

Các đương sự cùng trú tại Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện V, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 10 năm 2020 và caùc lôøi khai trong quaù trình giaûi quyeát vuï aùn, nguyên đơn ông Tạ Văn M trình bày:

Bà Trang Thị H làm đầu thảo hụi đã nhiều năm nay tại địa phương, hụi của bà có rất nhiều người tham gia. Vợ ông M có tham gia hụi của bà H 01 phần trong dây hụi mùa 1.000.000đ, 04 tháng khui một lần vào mùa lúa, dây hụi này mở vào tháng 8/2016 có sự tham gia của 13 hụi viên. Tháng 4/2017 vợ ông M là bà Võ Thị B bị bệnh chết, từ thời điểm đó về sau ông M là người tham hụi trực tiếp với bà H, mỗi lần khui hụi ông đều đóng tiền đầy đủ cho bà H. Đến tháng 12/2019 bà H thông báo với các hụi viên là không tiếp tục khui hụi nữa và cũng không trả lại tiền hụi đã đóng cho ông M trong khi dây hụi này chỉ còn 02 kỳ nữa là mãn hụi. Bà H sau đó bỏ nhà đi không ai biết đi đâu, không liên lạc gì được, có đến nhà đòi tiền thì ông P chồng bà H kêu tự tìm bà H mà đòi nợ, ông không liên quan gì.

Ông Tạ Văn M khởi kiện yêu cầu bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm trả cho ông tổng số tiền hụi đã đóng là 7.280.000 đồng, ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Trang Thị H vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa không có lời trình bày.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 12/3/2021, ông Nguyễn Văn P là chồng bà Trang Thị H trình bày: Ông và bà H là vợ chồng, bà H làm đầu thảo hụi đã trên dưới 20 năm nay, khui hụi tại nhà ông, các hụi viên kiện bà H ông đều biết mặt vì là hàng xóm lâu năm với nhau, ông M có tham gia hụi của bà H, ông M chưa hốt hụi, bà H làm đầu thảo hụi hưởng huê hồng để phục vụ chi tiêu sinh hoạt trong gia đình và lo cho con học hành. Từ cuối năm 2019 bà H bỏ nhà đi ông không biết đi đâu, hụi là do bà H mở, bà H thiếu nợ hụi các hụi viên thì tự chịu, ông không liên quan và không chịu trách nhiệm trả nợ chung với bà H.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông Tạ Văn M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm trả cho ông số tiền hụi đã đóng là 7.280.000đ.

*Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự trong vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Nguyên đơn từ lúc thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án là thực hiện tốt quy định của pháp luật; Bị đơn và người liên quan thực hiện chưa tốt quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cũng như có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm trả cho ông Tạ Văn M tiền hụi đã đóng bằng 7.280.000đ; Bà H và ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1 ] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.

Bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập xét xử, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và cũng không có yêu cầu phản tố, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[ 2 ] Về nội dung vụ án: Bà Trang Thị H là người làm chủ hụi ( đầu thảo ) lâu năm được những người xung quanh tin tưởng, tháng 8/2016 bà có mở dây hụi mùa, hụi trị giá 1.000.000đ, hụi khui 4 tháng một lần theo mùa lúa, hụi có tổng cộng 13 phần, bà Võ Thị B là vợ ông M có tham gia 01 phần, năm 2017 bà B bị bệnh chết, từ đó về sau ông M là người trực tiếp tham gia phần hụi này. Hụi khui được 11 lần, ông M đóng tiền hụi sống cho bà H số tiền tổng cộng 7.280.000đ, khi hụi còn kêu 02 kỳ nữa là mãn hụi thì bà H thông báo với các hụi viên rằng không tiếp tục khui hụi nữa, bà H bỏ nhà đi không ai liên lạc được và cũng không trả lại tiền cho những hụi viên chưa hốt hụi nhưng đã đóng hụi sống đầy đủ trong đó có anh Tạ Văn M.

Bà Tạ Thị M và bà Lâm Thị Thanh T là hụi viên cùng tham gia dây hụi trên với anh M cùng xác định: anh M có tham gia 01 phần trong dây hụi trên, đến thời điểm bà H tuyên bố không khui hụi nữa thì ông M chưa hốt hụi, ông M đóng tiền hụi sống cho bà H 11 lần tổng cộng số tiền bằng 7.280.000đ là hoàn toàn đúng sự thật.

Ông Nguyễn Văn P là chồng bà H cũng thừa nhận việc bà H làm đầu thảo hụi đã trên dưới 20 năm nay, khui hụi tại nhà ông, bà H lấy tiền hoa hồng làm hụi để phục vụ sinh hoạt thiết yếu trong gia đình, hiện bà H bỏ nhà đi đâu thì ông không rõ, tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng vẫn còn tồn tại.

Việc bà Huê phát sinh nợ hụi là trong thời kỳ hôn nhân và cũng vì mục đích phục vụ như cầu thiết yếu của gia đình nên Hội đồng xét xử xác định đây là nợ chung của vợ chồng, ông P phải có trách nhiệm cùng bà H trả nợ cho ông M là phù hợp quy định của pháp luật.

Ông M yêu cầu bà H, ông P có trách nhiệm trả cho ông số tiền hụi đã đóng 7.280.000đ là có căn cứ nên được chấp nhận.

[ 3 ] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm là có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự 2015.

Áp dụng Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 29 Nghị định 144 ngày 27/11/2006 của Chính phủ; Điều 27 Nghị định 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Văn M.

- Buộc bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P có nghĩa vụ trả cho ông Tạ Văn M số tiền hụi đã đóng bằng 7.280.000đ ( bảy triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng ).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án ) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

*Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Trang Thị H và ông Nguyễn Văn P phải nộp 364.000đ ( ba trăm sáu mươi bốn ngàn đồng ) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho ông Tạ Văn M 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng ) tiền tạm ứng án phí theo biên thu số N00008498 ngày 13/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ