vanban.org

Bản án 80/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 26/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc S phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 91; 101; khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Quốc S phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬ N THỐ T NỐ T
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2020/HSST
Ngày: 26- 8- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đông – Cán bộ Đài truyền thanh quận Thốt Nốt.

2. Ông Tăng Văn Chín – Hiệu trưởng (Giáo viên) Trường Trung học phổ

thông Thốt Nốt.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Toà án Nhân dân

quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ tham

gia phiên toà: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quậ n Thố t Nố t -

thành phố Cần Thơ, tiế n hà nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2020/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2020/QĐXXST-HS ngày 13/8/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Quốc S - sinh ngày 18/6/2003; Cư trú: Khu vực L1, phường K, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê. Cha: Lê Quốc M – chết; Mẹ: Nguyễn Thị Mĩ C – chết. Có 01 người em ruột – sinh năm 2012. Tiền án; tiền sự: Chưa.

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2020 đến nay.

(Có mặt tại phiên toà)

* Người đại diện cho bị cáo: Bà Đặng Thị Như T – sinh năm 1955.

Là bà nội của bị cáo Lê Quốc S.

Cư trú : Khu vực L1, phường K, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Xuân Nam – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Cần Thơ. Có mặt.

* Người bị hại: Ông Trần Ngọc D – sinh năm 1979.

Cư trú: Đường 7A, xã H, huyện Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘ I DUNG VỤ ÁN:

Qua cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và quá trì nh xé t hỏ i , tranh luậ n tạ i phiên tòa, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:

Vào lúc khoảng 10 giờ ngày 20/4/2020, Lê Quốc S đến Bến xe khách Miền Tây tại Quận 6 – thành phố Hồ Chí Minh để đón xe khách về quê tại khu vực L1 - phường K – quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ. S gặp ông Trần Ngọc D là người chạy xe hon đa khách, hai bên thoả thuận ông Dũng chở S về quê với giá là 800.000 đồng. Trên đường đi, đến địa phận tỉnh Long An, S ngồi sau thấy trong túi quần sau của ông D có 01 ví nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông D, nhưng do không rành địa bàn ở Long An nên Sơn chưa dám thực hiện. Khi đến khu vực L1 – phường K – quận Thốt Nốt, lợi dụng lúc đường hẹp, ông D đang tập trung điều khiển xe thì S đã dùng tay móc lấy cái ví trong túi quần sau của ông D rồi nhanh chóng phóng xuống xe. Chạy được khoảng 10 mét, nhìn lại thấy ông D bị té ngả xe xuống đường, S dừng lại mở ví ra lấy số tiền 1.000.000 đồng trong ví, rồi quăng cái ví lại hiện trường, S chạy về nhà. Bị giật tài sản, ông D trình báo sự việc đến Công an phường K. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Công an phường K mời S về trụ sở làm việc, tại đây S đã khai nhận hành vi phạm tội.

Thu giữ tang vật gồm:

+01 chiếc dép lào màu trắng đã qua sử dụng;

+01 chiếc áo thu cổ tròn, tay ngắn, màu đen đã qua sử dụng;

+01 chiếc áo sơ mi vãi tay ngắn, màu trắng, có viền cổ và viền túi áo màu đen, đã qua sử dụng;

+01 chiếc quần jean màu xanh dương, ống dài, đã qua sử dụng;

+01 chiếc nón kết màu đỏ đen, thêu chữ PUMA, đã qua sử dụng

+01 túi xách vãi màu đỏ, viềm xám, có chữ NESTLE đã qua sử dụng;

+Tiền Việt Nam là 410.000 đồng.

Đối với chiếc ví của ông Trần Ngọc D, Cơ quan điều tra không thu hồi lại được.

Qúa trình điều tra, ông Trần Ngọc D yêu cầu S bồi thường cho ông số tiền bị chiếm đoạt là 1.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận về định giá tài sản Số 43/2020/BB.ĐGTS ngày 08/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt xác định: 01 ví da màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 0 đồng (không đồng).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi Số 36/ĐT ngày 12/5/2020 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế thành phố Cần Thơ, kết luận: Tại thời điểm giám định ngày 12/5/2020, Lê Quốc S có độ tuổi từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm.

Tại Cáo trạng Số 76/CT-VKS ngà y 22/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - Tp. Cần Thơ, truy tố bị cáo Lê Quốc S về tội "Cướp giật tài sản" theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng: điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; 101; khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Lê Quốc S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Lê Quốc S có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Ngọc D số tiền

1.000.000 đồng.

- Về xử lý vậ t chứ ng: Tịch thu tiêu huỷ các tài sản sau đây:

+01 chiếc dép lào màu trắng đã qua sử dụng;

+01 chiếc áo thu cổ tròn, tay ngắn, màu đen đã qua sử dụng;

+01 chiếc áo sơ mi vãi tay ngắn, màu trắng, có viền cổ và viền túi áo màu đen, đã qua sử dụng;

+01 chiếc quần jean màu xanh dương, ống dài, đã qua sử dụng;

+01 chiếc nón kết màu đỏ đen, thêu chữ PUMA, đã qua sử dụng

+01 túi xách vãi màu đỏ, viềm xám, có chữ NESTLE đã qua sử dụng;

* Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Thống nhất với tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Tuy nhiên mức hình phạt như trên là nghiêm khắc. Bỡi do hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn, cha mẹ bị cáo đều đã chết, nên bị cáo phải sớm ra ngoài làm ăn, thiếu sự quan tâm giáo dục của người thân, nhận thức còn hạn chế. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt, cho bị cáo mức án 09 tháng tù để sớm được trở về làm ăn lo tiếp bà nội và em gái, cũng là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

* Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ :

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:

[1] Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thốt Nố t, Điề u tra viên , Việ n kiể m sá t nhân dân quậ n Thố t Nố t , Kiể m sá t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự thủ tục quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tò a không có ngườ i nà o khiế u nại về hành vi, quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n h ành tố tụng, ngườ i tiế n hà nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong điều tra và tại phiên tòa , bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.

Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 20/4/2020, trên đường đi xe hon đa khách do ông Trần Ngọc D chở bị cáo Lê Quốc S từ thành phố Hồ Chí Minh về nhà ở khu vực L1 – phường K – quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông D. Khi đến khu vực L1 – phường K – quận Thốt Nốt, lợi dụng lúc ông D đang tập trung điều khiển xe thì S đã dùng tay móc lấy cái ví trong túi quần sau của ông S rồi nhanh chóng phóng xuống xe chạy thoát. Bị cáo mở ví lấy số tiền 1.000.000 đồng, rồi quăng cái ví lại hiện trường. Hành vi bị Lê Quốc S thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “cướp giật tài sản”, theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét thấy, bị cáo là một thiếu niên có sức khoẻ, có khả năng lao động phù hợp để tạo ra thu nhập phục vụ cho nhu cầu bản thân. Nhưng do nhất thời phát sinh lòng tham mà đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Ngày nay, tình hình thanh thiếu niên phạm tội diễn ra nhiều, do nhận thức pháp luật và ý thức rèn luyện bản thân kém. Thiết nghĩ, cần có hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp tiền để bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha mẹ đều đã chết nên bị cáo thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đình. Bản thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 17 tuổi nên cần áp dụng những quy định pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng phạt bị cáo 09 tháng tù như người bào chữa đề nghị cũng là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo chưa đủ 18 tuổi.

[5] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vậ t chứ ng:

Ông Trần Ngọc D yêu cầu phía bị cáo bồi thường số tiền ông bị chiếm đoạt 1.000.000 đồng, là có cơ sở nên chấp nhận. Trong điều tra đã tạm giữ của bị cáo 410.000 đồng, gia đình bị cáo đã nộp thêm 590.000 đồng. Toàn bộ số tiền này dùng để bồi thường cho ông D.

Các tài sản tạm giữ khác là của bị cáo nhưng bị cáo không nhận lại, giá trị sử dụng không đáng kể nên tịch thu tiêu huỷ như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc S phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng: điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 91; 101; khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Lê Quốc S 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng: Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các Điều 584, 585, 589

của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị cáo Lê Quốc S có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Ngọc D số tiền

1.000.000 đồng (một triệu đồng). Khi án có hiệu lực, ông Trần Ngọc D liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ để nhận số tiền bồi thường, trong đó: Gia đình bị cáo đã nộp 590.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/005300 ngày 28/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ, và số tiền tạm giữ theo vật chứng trong vụ án là 410.000 đồng.

3. Về xử lý vậ t chứ ng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ các tài sản sau đây:

+01 chiếc dép lào màu trắng đã qua sử dụng;

+01 chiếc áo thu cổ tròn, tay ngắn, màu đen đã qua sử dụng;

+01 chiếc áo sơ mi vãi tay ngắn, màu trắng, có viền cổ và viền túi áo màu đen, đã qua sử dụng;

+01 chiếc quần jean màu xanh dương, ống dài, đã qua sử dụng;

+01 chiếc nón kết màu đỏ đen, thêu chữ PUMA, đã qua sử dụng

+01 túi xách vãi màu đỏ, viềm xám, có chữ NESTLE đã qua sử dụng;

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ