- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Diễm Tr - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Thị D Tr (tên gọi khác D) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2020/HS-ST Ngày 26-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hoàng
Bà Phạm Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Liên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020; Thông báo dời ngày xét xử số 02/TB-TA ngày 27 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị D Tr (tên gọi khác D), sinh năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số 1113/41A, tổ N, khu phố X, phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Ấp 1, xã X1, thị xã Z1, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Võ Hữu Đ; Mẹ: Nguyễn Thị Kim Th; Bị cáo có 01 con sinh năm 2006;
Tiền án (01): Tại Bản án số 13/2010/HSST ngày 21-01-2010 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 329/2009/HSST ngày 24-02-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 09 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07-02-2017.
Bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh bắt tạm giam ngày 09-12-2019 trong một vụ án khác (có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Anh Phạm Quốc V, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 5, xã X1, thị xã Z1, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã X1, thị xã Z1, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
2. Ông Lê Văn H, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố 4, phường X3, thị xã Z1, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị D Tr và Nguyễn Thị M là những người ở chung phòng trọ tại xã X1, thị xã Z1, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 05-10-2019, Tr rủ M đi lấy trộm tài sản để bán kiếm tiền tiêu xài thì được M đồng ý. Sau đó cả hai đi xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) đến khu vực đất trống tại ấp 1, xã X1, thị xã Z1 lén lút lấy trộm của anh Phạm Quốc V số tài sản gồm: 02 bệ toa xe lửa trò chơi thiếu nhi bằng sắt; 02 thanh sắt của đoạn đường ray; 01 mô tơ điện loại dùng để vận hành đu quay và đầu toa xe lửa trò chơi thiếu nhi. Sau khi lấy trộm được tài sản, Tr và M đem 02 bệ toa xe lửa, 02 thanh sắt của đoạn đường ray đến tiệm mua ve chai của ông Lê Văn H bán được 550.000 đồng. Đối với 01 mô tơ điện Tr bán cho người mua ve chai dọc đường được 100.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán tài sản nêu trên Tr và M đã tiêu xài hết.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL ngày 03-02-2020 của Hội đồng định giá tài sản xác định:
“02 bệ toa xe lửa trò chơi thiếu nhi bằng sắt, 02 thanh sắt của đoạn đường ray trọng lượng khoảng 80kg, đã qua sử dụng có trị giá 488.000 đồng; 01 mô tơ điện dùng để vận hành đu quay và đầu toa xe lửa trò chơi thiếu nhi, đã qua sử dụng có trị giá 460.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 948.000 đồng”
* Về vật chứng: Ngày 06-10-2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã thu giữ được 02 bệ toa xe lửa, 02 thanh sắt của đoạn đường ray và trả lại cho anh Việt.
Đối với Nguyễn Thị M có tham gia lấy trộm tài sản của anh VTuy nhiên do giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng và M cũng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về các tội chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng.
* Bản Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 30-3-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ truy tố Nguyễn Thị D Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:
Giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với Nguyễn Thị D Tr đồng thời đề nghị:
Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thị D Tr từ 06 tháng đến 09 tháng tù;
Về xử lý vật chứng: Không giải quyết
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Quốc V và ông Lê Văn H không yêu cầu nên không giải quyết.
* Lời khai của bị cáo: Bị cáo Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến bào chữa mà chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng.
Tại phiên tòa Nguyễn Thị D Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Từ đó, đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ sáng ngày 05-10-2019 tại khu vực đất trống thuộc ấp 1, xã X1, thị xã Z1, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Thị D Tr và Nguyễn Thị M đã có hành vi lén lút lấy trộm của anh Phạm Quốc V số tài sản gồm: 02 bệ toa xe lửa trò chơi thiếu nhi bằng sắt; 02 thanh sắt của đoạn đường ray và 01 mô tơ điện loại dùng để vận hành đu quay và đầu toa xe lửa trò chơi thiếu nhi. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt được xác định là 948.000 đồng.
Xét, mặc dù tài sản bị cáo M chiếm đoạt có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng trước đó bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản” và chưa được xóa án nên lần phạm tội này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố.
Do đó kết luận hành vi của Nguyễn Thị D Tr đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo Tr là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Mặt khác, từ năm 2009 đến nay bị cáo liên tiếp thực hiện những hành vi vi phạp pháp luật và đã bị xử phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cảnh tỉnh bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải có một mức hình phạt tù tương xứng với mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra để nhằm răn đe, giáo dục đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Phạm Quốc V và ông Lê Văn H không yêu cầu bị cáo bồi thường phần dân sự nên không giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 bệ toa xe lửa và 02 thanh sắt của đoạn đường ray đã được thu hồi trả cho anh Việt nên đã giải quyết xong.
Đối với 01 chiếc xe mô tô được bị cáo sử dụng đi lấy trộm tài sản hiện không thu giữ được nên không giải quyết.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thị M bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Nguyễn Thị D Tr (tên gọi khác D) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị D Tr (D) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09-12-2019.
2. Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng : Không giải quyết
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Buộc Nguyễn Thị D Tr phải chịu 200.000 đồng .
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26-6-2020) bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm (đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - CCTHADS thị xã Phú Mỹ; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - TAND tỉnh BR-VT’ - VKSND tỉnh BR-VT; - PV06 Công an tỉnh BR-VT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Nghĩa |