- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Cát D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Cát D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2020/HS-ST Ngày: 26-10-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tuyển và bà Triệu Thị Danh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Năng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện E.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên toà: Ông Ksơr Y Kơn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2020 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện E mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Hoàng Cát D, sinh năm 1988; Tại tỉnh Đăk Lăk; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn 5, xã Ea, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình T, sinh năm 1955 và bà Tạ Thị H, sinh năm 1959; Vợ: Trương Thị Tú P (đã ly hôn); Bị cáo có 01 người con sinh năm 2016; Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 05/2019/HS-ST ngày 15/02/2019 của Tòa án nhân dân Thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 22/11/2019 chấp hành xong án phạt tù, nhưng chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Tại Bản án số 13/2014/HS-ST ngày 30/7/2014 của Tòa án nhân dân Thị xã A YunPa, tỉnh Gia Lai, xử phạt 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22 tháng 07 năm 2020. Có mặt.
Bị hại: Bà Đinh Thị V, sinh năm 1979. Trú tại: Thôn 3, xã Ea, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Tạ Thị Hòa, sinh năm 1959. Trú tại: Thôn 5, xã Ea, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 26/6/2020, bà Đinh Thị V, trú tại thôn 3, xã Ea, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đi vào rẫy hái bơ. Sau khi hái được 02 bao thì bà V chở 01 bao bơ nặng 60kg về để trước hiên nhà bà V ở thôn 3, xã Ea, rồi tiếp tục vào rẫy chở bao bơ còn lại. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Hoàng Cát D đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, điều khiển xe mô tô biển số 77Y2-4873 đi qua nhà bà V. Lúc này, D nhìn thấy có một bao bơ đang để trước hiên nhà bà V nhưng không có người trông coi. Thấy vậy, D nảy sinh ý định lấy trộm bao bơ bán lấy tiền tiêu xài. D dựng xe trước cổng nhà bà V rồi đi vào lấy trộm bao bơ bỏ lên xe mô tô. Sau đó, D điều khiển xe mô tô chở bao bơ chạy về hướng đường tránh thị trấn Ea để bán. Khi đi đến khu vực Km 65 thuộc xã, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì D gặp một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch đang đi mua bơ dạo. Khi đó, D đã bán bao bơ cho người phụ nữ này được số tiền 160.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán bơ D đã tiêu xài hết.
Tại Biên bản định giá tài sản số 580/BB-ĐGTS ngày 30/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện E, kết luận: giá trị của 60 kg quả bơ, loại bơ ghép có giá trị 1.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện E truy tố để xét xử đối với bị cáo Hoàng Cát D về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Cát D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Cát D từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tạm giữ: 01 xe mô tô, biển số 77Y2-4873. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 77Y2- 4873 là tài sản của bà Tạ Thị H. Việc Hoàng Cát D sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện phạm tội bà H không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả chiếc xe mô tô biển số 77Y2- 4873 cho bà Tạ Thị H là chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Đinh Thị V không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về cáo trạng và cũng không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa về cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập lưu tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hoàng Cát D là người có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 26/6/2020, tại nhà bà Đinh Thị V ở thôn 3, xã Nam, huyện E, tỉnh Đăk Lăk, bị cáo D đã có hành vi lén lút thực hiện hành vi trộ m cắ p 01 bao bơ nặng 60kg của bà Đinh Thị V, tài sản bị chiếm đoạt trị giá 1.500.000 đồng.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”
…
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”.
Như vậy, hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang, lo lắng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ nhận thức biết rõ hành vi phạm tội của bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do lười làm động muốn có tiền tiêu sài cùng với ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trước đó bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tuy đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích mà bị cáo tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhằm tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật và nhằm giao dục, răn đe, phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo, để thể tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với người phụ nữ mua bơ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Đinh Thị V không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đề cập xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô, biển số 77Y2-4873. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 77Y2- 4873 là tài sản của bà Tạ Thị Hòa (mẹ D). Việc Hoàng Cát D sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện phạm tội bà Hòa không biết. Cần Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả chiếc xe mô tô biển số 77Y2- 4873 cho bà Tạ Thị H là chủ sở hữu hợp pháp.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Cát D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Cát D 09 tháng (Chín tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án.
Đối với người phụ nữ mua bơ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Đinh Thị V không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả chiếc xe mô tô biển số 77Y2- 4873 cho bà Tạ Thị H.
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Cát D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Lăk; - Viện KSND huyện E; - Công an huyện E; - Cơ quan THAHS CA huyện E; - Chi cục THADS huyện E; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Xuân Cường |