vanban.org

Bản án 80/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T về việc “tranh chấp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn N - Nguyễn Xuân H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 80/2020/DS-ST
Ngày: 30 – 12 – 2020
Về việc tranh chấp hợp
đồng dân sự vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thu Yến.

2. Ông Nguyễn Văn Xuân.

Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố T, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 210/2020/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 84/2020/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2020/QĐST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2020, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1963; nơi thƣờng trú: khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1964, bà Trần Thị T, sinh năm 1971; nơi thƣờng trú: khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; tạm trú: KDC V, khu phố H, phƣờng G, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị M, sinh năm 1965; nơi thƣờng trú: khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Ngƣời làm chứng: Ông Cao Bá H, sinh năm 1970; nơi thƣờng trú: 16E/12 khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 9 năm 2020, các lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày trình bày:

Ngày 29/5/2015, ông Nguyễn Văn N có cho ông Nguyễn Xuân H và bà Trần Thị T vay số tiền 80.000.000đồng (tám mƣơi triệu đồng), thời hạn vay 03 tháng tính từ ngày 29/5/2015 đến 30/8/2015, hai bên có lập giấy vay tiền viết tay, các bên có ký vào giấy vay tiền ngày 29/5/2015, ông N đã giao đủ tiền, ông H, bà T đã nhận đủ số tiền 80.000.000đồng. Hai bên có thỏa thuận lãi suất, mỗi tháng là 2.000.000đồng. Số tiền trên là tài sản riêng của ông N. Do tin tƣởng nên việc cho vay không có thế chấp tài sản gì. Tuy nhiên, đến thời hạn trả nợ nhƣng ông H, bà T không trả cho ông N mặc dù ông N đã yêu cầu thanh toán nợ nhiều lần.Về tiền lãi ông H, bà T cũng không thanh toán đầy đủ, có tháng trả tháng không, tổng tiền lãi mà ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T đã thanh toán cho ông N từ ngày 29/5/2015 đến tháng 10/2018 là 22.000.000 đồng. Từ tháng 11/2018 đến nay ông H, bà T không thanh toán bất cứ khoản nợ gốc và lãi nào cho ông N.

Việc ông H, bà T không thanh toán nợ đúng hạn đã làm ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N, do đó ông N khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Xuân H và bà Trần Thị T trả số tiền 80.000.000 đồng (tám mƣơi triệu đồng) đã vay theo giấy vay tiền ngày 29/5/2015 và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật là 20%/năm (tƣơng đƣơng 1,66%/tháng), từ tháng 11/2018 đến tháng 3/2020, số tiền tạm tính 42.000.000 đồng (Bốn mƣơi hai triệu đồng). Tổng cộng: 122.000.000 đồng (Một trăm hai mƣơi hai triệu đồng). Ngoài ra nguyên đơn không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Giấy vay tiền ngày 29/5/2015 và các tài liệu chứng cứ khác có liên quan.

Tại bản tự khai, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị T trình bày:

Ngày 29/5/2015, bà Trần Thị T và ông Nguyễn Xuân H là chồng bà T có vay của ông Nguyễn Văn N số tiền 80.000.000đồng (tám mƣơi triệu đồng), thời hạn vay 03 tháng tính từ ngày 29/5/2015 đến 30/8/2015, hai bên có lập giấy vay tiền viết tay, bà T và ông H có ký vào giấy vay tiền ngày 29/5/2015 và đã nhận đủ số tiền 80.000.000đồng ông N cho vay. Hai bên có thỏa thuận lãi suất, mỗi tháng bà T và ông H trả cho ông N số tiền lãi là 2.000.000đồng, trả đều mỗi tháng.

Tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn nên bà T và ông H không trả nợ đúng hẹn đƣợc nhƣng hàng tháng vẫn trả lãi đầy đủ. Đến cuối năm 2019 bà T và ông H có trả cho ông N số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng (hai mƣơi triệu đồng), khi trả không lập biên bản giao nhận tiền, không có chứng cứ chứng minh đã trả số tiền 20.000.000 đồng. Bà T xác định chỉ còn nợ ông N số tiền nợ gốc là 60.000.000đồng (sáu mƣơi triệu đồng).

Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà T đồng ý thanh toán tiền nợ gốc cho ông N là 60.000.000đồng (sáu mƣơi triệu đồng). Nhƣng do hoàn cảnh khó khăn nên yêu cầu đƣợc trả dần số nợ trên, mỗi tháng trả số tiền 5.000.000đồng cho đến khi hết nợ.

Về tiền lãi, bà T xác định từ tháng 9 năm 2020 đến nay chƣa thanh toán tiền lãi cho ông N, do hoàn cảnh khó khăn nên bà T yêu cầu ông N không tính lãi đối với số tiền này. Bị đơn bà T không có yêu cầu phản tố trong vụ án và không có ý kiến gì khác.

Bị đơn ông Nguyễn Xuân H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và các giấy triệu tập ông Nguyễn Xuân H đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, ông Nguyễn Xuân H đều vắng mặt không rõ lý do, không chấp hành và không có phản hồi gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản tự khai trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị M trình bày:

Bà M là vợ của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N. Việc ông N có tiền cho ông H, bà T vay số tiền 80.000.000 đồng vào ngày 29/5/2015 thì bà M không biết. Bà M xác định số tiền ông N cho ông H, bà T vay là tiền của ông N, nguồn gốc số tiền này nhƣ thế nào bà M không biết, không phải là tài sản chung của bà M và ông N. Do đó, quá trình vay tiền, thanh toán tiền gốc và lãi giữa các bên nhƣ thế nào bà M không đƣợc biết.

Bà M xác định không có liên quan gì trong vụ án này, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án. Nếu ông H, bà T có nợ ông N thì phải có trách nhiệm trả nợ cho ông N. Bà M đề nghị đƣợc vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm.

Tại bản tự khai trong quá trình tố tụng người làm chứng ông Cao Bá H trình bày:

Ông Cao Bá H là bạn của ông Nguyễn Xuân H và bà Trần Thị T. Trƣớc năm 2015, ông Cao Bá H cho ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T mƣợn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ông H, bà T đi thế chấp vay số tiền 80.000.000 đồng, sau đó ông Nguyễn Xuân Ngọc biết sự việc nên nói với ông Cao Bá H là giúp cho ông Nguyễn Xuân H và bà Trần Thị T vay số tiền 80.000.000 đồng để ông H, bà T lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà ông Cao Bá H về. Do đó, vào ngày 29/5/2015 tại nhà của ông Cao Bá H, ông Nguyễn Xuân H và bà Trần Thị T đã vay của ông N số tiền 80.000.000 đồng để đi lấy sổ về, ông Cao Bá H đã chứng kiến việc ông N giao đủ số tiền 80.000.000 đồng cho ông Nguyễn Xuân H và bà Trần Thị T vay, ông Cao Bá H xác định có ký tên vào giấy vay tiền ngày 29/5/2015 với tƣ cách ngƣời làm chứng. Sau khi vay tiền xong thì việc thanh toán tiền lãi, gốc giữa ông N, ông H, bà T nhƣ thế nào thì ông Cao Bá H không biết, chỉ đƣợc nghe ông N nói đến thời điểm hiện tại ông H và bà T chƣa thanh toán cho ông N số tiền đã vay. Ông Cao Bá H xác định không có liên quan gì trong vụ án này, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn. Ông N đề nghị đƣợc vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng, quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thƣ ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đƣơng sự không bị hạn chế quyền khi tham gia tố tụng; nguyên đơn ông Nguyễn Văn N chấp hành đúng các quy định của pháp luật; bị đơn bà T chấp hành đúng các quy định của pháp luật trƣớc thời điểm xét xử, không chấp hành quy định của pháp luật tố tụng về việc tham gia phiên tòa; bị đơn ông Nguyễn Xuân H đã đƣợc Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng vắng mặt không có lý do là không chấp hành pháp luật tố tụng, tự từ bỏ quyền trình bày, đƣa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc 80.000.000 đồng và tiền lãi từ tháng 11/2018 đến tháng 3/2020. Bị đơn vay nguyên đơn số tiền nợ trên nhƣng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là vi phạm quy định của pháp luật nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 80.000.000 đồng. Theo thỏa thuận vay tiền, nguyên đơn và bị đơn tuy có thỏa thuận về tiền lãi nhƣng số tiền này vƣợt mức quy định của pháp luật, nay nguyên đơn yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm (tƣơng đƣơng 1,66%/tháng), thời gian tính lãi từ tháng 11/2018 đến tháng 3/2020 là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đây là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T có nơi cƣ trú tại địa chỉ Ô 83, đƣờng D1, Lô DC 64, khu dân cƣ Việt Sing, khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vì vậy theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 36 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng thụ lý đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu khởi kiện: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, các đƣơng sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên căn cứ Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu trong vụ án này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Xuân H đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng, đồng thời bà Trần Thị T, ông Nguyễn Xuân đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và xem nhƣ bị đơn từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn ông Nguyễn Văn N, bị đơn bà Trần Thị T cung cấp và tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập làm căn cứ giải quyết vụ án.

Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1,66%/tháng từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 3 năm 2020.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Giấy vay tiền ngày 29/5/2015 có chữ ký của ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T và ngƣời làm chứng Cao Bá H và các tài liệu chứng cứ khác có liên quan. Nội dung chứng cứ thể hiện ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T có vay của ông Nguyễn Văn N số tiền 80.000.000 đồng vào ngày 29/5/2015, thời hạn vay 03 tháng tính từ ngày 29/5/2015 đến 30/8/2015, thỏa thuận tiền lãi 2.000.000 đồng/tháng. Bị đơn bà Trần Thị T xác định bà Trần Thị T và ông Nguyễn Xuân H có vay số tiền 80.000.000đồng của ông Nguyễn Văn N, đã thanh toán cho ông N số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng, tuy nhiên nguyên đơn xác định bị đơn chƣa thanh toán số tiền nợ gốc nào, bị đơn không có chứng cứ chứng minh việc đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 80.000.000đồng, thời hạn thanh toán tiền vay là ngày 30/8/2015, việc bị đơn không trả số tiền đã vay đúng theo thời hạn thỏa thuận là xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại các Điều 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền vay 80.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Quá trình tố tụng nguyên đơn xác nhận tổng số tiền lãi hàng tháng đã nhận của bị đơn từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 10 năm 2018 (40 tháng) là 22.000.000đồng. Số tiền lãi đã nhận không vƣợt quá lãi suất quy định của pháp luật, đồng thời các bên không có tranh chấp gì về phần tiền lãi đã thanh toán nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn theo mức lãi suất 1,66%/tháng từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 3 năm 2020: Tại giấy vay tiền ngày 29/5/2015 nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận tiền lãi là 2.000.000 đồng/tháng (tƣơng đƣơng 2,5%/tháng). Tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác….

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Nhƣ vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi với mức lãi suất 1,66%tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền lãi theo quy định nhƣ sau: (1,66%/tháng x 17 tháng x 80.000.000 đồng) = 22.576.000 đồng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn đƣợc chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Buộc ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T phải trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền nợ gốc 80.000.000 đồng (Tám mƣơi triệu đồng) và tiền lãi 22.576.000 đồng (Hai mƣơi hai triệu năm trăm bảy mƣơi sáu nghìn đồng). Tổng cộng 102.576.000đồng (Một trăm lẻ hai triệu năm trăm bảy mƣơi sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trƣờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Xuân H, bà Trần Thị T phải chịu 5.128.800 đồng (Năm triệu một trăm hai mƣơi tám nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả cho ông N số tiền 3.050.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0047420 ngày 09 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ