vanban.org

Bản án 80/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 11/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;

Xử vắng mặt bị đơn S. [1] Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn Q đối v i bị đơn S, K Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hoàng Hà Q kiện Nguyễn Thị Hoàng K, Nguyễn Xuân S"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 80/2020/DS-ST
Ngày: 11-9-2020
Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Quốc Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Ngọc Hân

2. Bà guyễn Thị Mỹ Chí

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án

Trong các ngày 04 và ngày 11 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thành phố L tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2020/TLST–DS ngày 03 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2020/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 230/2020/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 262/2020/QĐST-DS ngày 25/8/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

ng Hoàng Hà Q, sinh năm 1968. Có mặt

Địa ch : Số 134A/4, t 1C, đư ng , kh m , phư ng K, thành phố L, t nh n iang.

2. B đơn:

Ông guyễn u n S, sinh năm 1983.

Địa ch : Số 190 , đư ng L, kh m A, phư ng M, thành phố L, t nh n Giang. (Ông S c đơn xin vắng mặt)

à guyễn Thị Hoàng , sinh năm 1981. C mặt

Địa ch : Số 19/19, ấp H, xã , huy n C, t nh n iang.

ơi àm vi c hi n nay: Cửa hàng A. Địa ch : 1483/7, đư ng T, kh m B, phư ng Đ, thành phố L, t nh n iang.

gư i bảo v quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn Nguyễn Thị Hoàng K: Bà Nguyễn Thị Minh L - Văn phòng uật sư Minh Phúc thuộc Đoàn uật sư t nh An Giang. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi ki n ngày 18/5/2020 và đơn khởi ki n sung ngày 26/5/2020 cùng l i khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Hoàng Hà Q trình bày:

Do quen biết nên ông S, bà K có thỏa thuận vay tiền của ông Q nhiều lần, mục đích vay để đáo hạn ngân hàng và làm vốn kinh doanh vật li u xây dựng, cụ thể: gày 04/9/2018, ng S và à vay của ng Q số tiền 460.000.000đ, hẹn 05 ngày sẽ hoàn trả đầy đủ; gày 06/9/2018, à K tiếp tục vay thêm của ông Q số tiền à 20.000.000đ; hẹn 05 ngày sau sẽ hoàn trả đầy đủ; Đến ngày 16/4/2019, à tiếp tục hỏi vay của ng Q số tiền 100.000.000đ, hẹn 10 ngày sau sẽ hoàn trả đầy đủ. Các lần vay thì ông S, bà K có ký tên vào biên nhận nợ và thỏa thuận lãi bên ngoài là 2%/ngày.

hi đến hạn, bà K không thực hi n trả nợ như thỏa thuận và đ ng ãi nhiều lần được 182.000.000đ thì ngưng cho đến nay, ông Q kh ng nh r ngày, tháng ông S, bà K trả ãi. Do, bên vay vi phạm nghĩa vụ nên ông Q khởi ki n yêu cầu Tòa án buộc ng S, à

iên đ i trách nhi m trả cho ông số tiền 580.000.000đ, yêu cầu tính ãi theo quy định pháp luật đối v i các khoản vay nêu trên và đồng ý khấu trừ vào số tiền ãi mà ng Q đã nhận của ông S, bà K là 182.000.000đ.

Ông S và à K vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối v i yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn.

Tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

guyên đơn xác định lại yêu cầu khởi ki n và trình bày: Ông à ngư i chuyên cho vay đáo hạn ngân hàng và được bạn bè gi i thi u ông S, bà K đến vay tiền của ông nhiều lần, cụ thể:

Ngày 04/9/2018, ông S, bà K có vay của ông số tiền 460.000.000đ; Ngày 06/9/2018, ông S, bà K vay thêm của ông số tiền 20.000.000đ; Ngày 16/4/2019, bà K vay thêm của ông số tiền 100.000.000đ. T ng cộng à 580.000.000đ, do không nh rõ ông S, bà K đã đ ng ao nhiêu ãi nên ng c gọi đi n thoại hỏi bà K thì bà K cho rằng đã đ ng ãi được 182.000.000đ nên ng đã trình bày như nội dung khởi ki n. Tại phiên tòa, ông Q xác định số tiền lãi 182.000.000đ phía bị đơn đã trả, trong đ c tiền vốn là 100.000.000đ được ông S, bà K trả vào ngày 14/9/2018 (của số tiền vay ngày 04/9/2018 là 460.000.000đ), còn lại là 82.000.000đ tiền lãi. hư vậy, t ng cộng số tiền ông S, bà K còn nợ là 480.000.000đ và tiền lãi phát sinh trên nợ gốc (số tiền 360.000.000đ tính ãi từ ngày 04/9/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm; số tiền 20.000.000đ tính ãi từ ngày 06/9/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm; số tiền 100.000.000đ tính lãi từ ngày 16/4/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm). Ông Q đồng ý khấu trừ vào tiền ãi đã nhận à 82.000.000đ.

Bị đơn bà K thống nhất v i ông Q về số tiền của 3 lần vay tương ứng v i th i gian nêu trên, mục đích vay tiền của ng Q để trả đáo hạn vay ngân hàng, b sung vốn kinh doanh cửa hàng vât li u xây dựng cho gia đình. Ngày 14/9/2018, bà K trả cho Q 100.000.000đ (đối v i số tiền 460.000.000đ, còn lại 360.000.000đ) và trả lãi cho ông Q nhiều lần, hình thức trả lãi trực tiếp hoặc chuyển khoản cho ông Q. Ngoài số tiền ãi 82.000.000đ như ng Q trình ày, à K còn chuyển khoản trả lãi cho ng Q 62.000.000đ vào ngày 14/5/2019 và các lần đưa trực tiếp thì bà K không nh rõ. Nay, ông Q khởi ki n yêu cầu bà và ông S cùng iên đ i trả số tiền vay còn nợ là 480.000.000đ, lãi phát sinh theo quy định pháp luật thì à đồng ý và yêu cầu được khấu trừ vào tiền ãi ng Q đã nhận t ng cộng à 144.000.000đ. Đối v i các khoản tiền lãi chênh l ch đã trả trực tiếp cho ông Q, do không có chứng từ chứng minh nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối v i th i gian tính lãi của số tiền 360.000.000đ, à yêu cầu tính lãi từ ngày 14/9/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm, vì ngày 14/9/2018 à im đã trả cho ng Quang 100.000.000đ nên bắt đầu tính lãi trên số tiền 360.000.000đ từ ngày này. Riêng, số tiền vay 20.000.000đ ngày 06/9/2018 và số tiền vay 100.000.000đ ngày 16/4/2019 thì à đồng ý theo ngày tháng năm do ông Q yêu cầu.

Bị đơn ông S vắng mặt tại phiên tòa nhưng c đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 03/9/2020, ông S trình bày: Ông S không biết khoản vay cụ thể giữa vợ ông (bà K) v i ông Q ra sao. Ông có nhận được thông báo của Tòa án, ông Q khởi ki n số tiền vay à 580.000.000đ và tiền ãi đã nhận là 182.000.000đ, ông S có nghe bà K nói ch vay của ông Q 480.000.000đ và đã trả một phần nợ gốc, tính đến ngày 25/3/2020 ch còn nợ gốc 255.000.000đ. Đối v i số tiền trả lãi trực tiếp không làm biên nhận, ông Q thừa nhận 182.000.000đ thì ng chấp nhận và không chấp nhận số tiền nợ gốc như ng Q khởi ki n.

guyên đơn ông Q trình bày: Các lần vay tiền, ông S có ký vào biên nhận nợ, riêng vi c trả một phần vốn, lãi thì bà K thực hi n. Khi khởi ki n, ông không nh r à , ng S đã trả bao nhiêu lãi nên có đi n thoại hỏi thì bà K xác định trả ãi được 182.000.000đ (trên số tiền gốc à 580.000.000đ) nhưng thực tế ông không nhận số tiền ãi như vậy và xác định trong số tiền ãi 182.000.000đ à c 100.000.000đ tiền vốn bà K trả, còn ãi à 82.000.000đ. Đối v i số tiền chuyển khoản trả lãi 62.000.000đ ngày 14/5/2019 là của khoản vay khác, không phải của các lần vay nêu trên nhưng do không có chứng cứ chứng minh nên ông Q thừa nhận số tiền ãi 62.000.000đ này và đồng ý khấu trừ lãi sau khi Tòa án tính lãi theo quy định pháp luật đối v i các khoản vay nêu trên. Đối v i yêu cầu của bà K về tính lãi trên số tiền 360.000.000đ kể ngày 14/9/2018 thì ng kh ng đồng ý, vì ngày vay số tiền 460.000.000đ à ngày 04/9/2018 và ngày trả 100.000.000đ là ngày 14/9/2018 thì số tiền nợ 360.000.000đ còn ại vẫn phải tính từ ngày vay.

gư i bảo v quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà K trình bày: Bà K thống nhất số tiền vay như nguyên đơn trình ày. Theo nội dung khởi ki n nguyên đơn cho rằng đã nhận lại lãi 182.000.000đ, thừa nhận bà K có 100.000.000đ, nhận lãi thêm 62.000.000đ nhưng tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng trong 182.000.000đ c 100.000.000đ tiền vốn trả ngày 14/9/2018. Mặt khác, bà K đã trả ãi cho nguyên đơn nhiều hơn nguyên đơn trình ày nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Đối v i số tiền 100.000.000đ, ông S không ký vào biên nhận nợ cùng bà K nên yêu cầu không buộc ng S cùng iên đ i v i và bà K trả số tiền ngày cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa nguyên đơn, ị đơn là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố L; Nguyên đơn khởi ki n và xác định tư cách đương sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

ị đơn ông S được Tòa án cấp tống đạt, niêm yết các văn ản tố tụng được xem tri u tập hợp l nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nhưng c đơn xin xét xử vắng mặt. o đ , Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định xét xử vắng mặt ông S.

Ngày 04/9/2020, vụ án đưa ra xét xử theo Quyết định hoãn phiên tòa số 262/2020/QĐST-DS ngày 25/8/2020. Do vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, vi c nghị án đòi hỏi phải có th i gian nên Hội đồng xét xử quyết định th i gian nghị án trong 05 ngày làm vi c. Ngày 11/9/2020, qua nghị án, xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, vi c hỏi chưa đầy đủ và xem xét thêm chứng cứ nên Hội đồng xét xử quyết định trở lại vi c hỏi và tranh luận theo quy định tại các Điều 264, Điều 265 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối v i vi c nguyên đơn thay đ i yêu cầu khởi ki n, xác định số tiền vay còn nợ, tiền lãi bị đơn đã trả, th i gian tính lãi. Xét thấy, vi c thay đ i, b sung yêu cầu của nguyên đơn kh ng vượt quá phạm vi yêu cầu khởi ki n ban đầu theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp

Qua yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn thể hi n: Giữa nguyên đơn ông A và bị đơn ông S, bà K thống nhất có xác lập 03 hợp đồng vay tài sản vào các ngày 04/9/2018, 06/9/2018 và 16/4/2019 để vay số tiền 580.000.000đ, ãi suất các bên thỏa thuận là 2%/ngày, mục đích vay theo ị đơn để đ ng hạn ngân hàng, b sung vốn kinh doanh vật li u xây dựng và thỏa thuận ngày trả từ 05 đến 10 ngày kể từ ngày vay nhưng ị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi ki n yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải iên đ i trả vốn gốc, lãi theo biên nhận nợ đã ký kết.

Xét thấy, th i gian chuẩn bị xét xử, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi ki n. Bị đơn vắng mặt, không gửi văn ản trình bày ý kiến đối v i yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa mở lần thứ hai vào ngày 04/9/2020, bị đơn K và ngư i bảo v quyền, lợi ích hợp pháp trực tiếp đến tham gia tố tụng, xác định số tiền 03 lần vay à 580.000.000đ nhưng đã trả cho nguyên đơn 100.000.000đ vào ngày 14/9/2018 và đ ng ãi nhiều lần, trong đ c ần bà K chuyển khoản cho nguyên đơn 62.000.000đ, đồng th i nguyên đơn thừa nhận có nhận 182.000.000đ tiền ãi nên đề nghị Hội đồng xét xử tính lãi và khấu trừ vào vốn gốc. Hội đồng xét xử tiến hành đối chất trực tiếp nguyên đơn, ị đơn để xác định lại số tiền vay, tiền lãi và số tiền bị đơn đã trả cũng như xác định lại yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn nhưng hai bên không thống nhất được số tiền vốn, ãi đã trả của lần vay 460.000.000đ vào ngày 04/9/2018, riêng 02 lần vay còn lại thì hai bên thống nhất. o đ , Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, xem xét chứng cứ 02 bên cung cấp để àm căn cứ giải quyết quyết vụ án và quyết định nghị án trong 05 ngày làm vi c kể từ ngày kết thúc phần tranh luận.

Tại phiên tòa ngày 11/9/2020, do nội dung vụ án chưa r nên Hội đồng xét xử quay lại phần hỏi. Nguyên đơn, bị đơn thống nhất xác định lại số tiền bị đơn vay à 580.000.000đ, trong số tiền lãi 182.000.000đ như đơn khởi ki n thì có 100.000.000đ tiền vốn đã trả vào ngày 14/9/2018, còn lại 82.000.000đ à tiền lãi và bà Kim chuyển khoản 62.000.000đ ngày 14/5/2019, nguyên đơn cho rằng không phải của 03 lần vay trên nhưng do không có chứng cứ chứng minh nên nguyên đơn thừa nhận có nhận của bà Kim 62.000.000đ. hư vậy, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vốn gốc 480.000.000đ, tiền ãi đã nhận à 144.000.000đ và nguyên đơn đồng ý tính lãi theo quy định pháp luật, đồng th i khấu trừ vào số tiền lãi 144.000.00đ nguyên đơn đã nhận là tự nguy n, phù hợp v i Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử xem xét.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 03/9/2020, bị đơn S cho rằng số tiền vay của nguyên đơn đều do vợ ông là bà K thực hi n. Ông S nghe bà K nói số tiền vay là 480.000.000đ, đã trả vốn, lãi nhiều lần, hi n còn nợ lại 255.000.000đ và đối v i yêu cầu khởi ki n của ông Q thì ng kh ng đồng ý. Tuy nhiên, ông không giao nộp chứng cứ chứng minh theo nội dung trình ày để bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Mặt khác, ngư i bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của bà K cho rằng không buộc ông S cùng iên đ i trách nhi m v i bà K trả số tiền vay của biên nhận ngày 06/9/2018 và ngày 16/4/2019, vì ông S không ký vào biên nhận này. Xét thấy, mặc dù ông S không ký vào 02 biên nhận nợ nêu trên nhưng ông S, bà K cùng ký vào biên nhận ngày 04/9/2018 vay 460.000.000đ và bà K trình bày vi c vay tiền của nguyên đơn nhằm mục đích đáo hạn ngân hàng, giải ng n để b sung vốn kinh doanh vật li u xây dựng là thực hi n giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên cần buộc ng S, à iên đ i trả nợ cho nguyên đơn, phù hợp v i quy định tại các Điều 27, khoản 1 Điều 30 và Điều 37 Luật H n nh n và gia đình năm 2014.

Đối v i phần yêu cầu ngày tính lãi, hai bên thống nhất ngày tính lãi của số tiền 20.000.000đ kể từ ngày 06/9/2018 và lãi của 100.000.000đ kể từ ngày 16/4/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm, riêng số tiền lãi phát sinh trên 360.000.000đ thì ng Q, à kh ng thống nhất (ông Q yêu cầu tính lãi từ ngày vay 04/9/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm, bà K yêu cầu tính lãi từ ngày 14/9/2018, vì ngày này trả vốn cho ông Q được 100.000.000đ). Xét thấy, ngày 14/9/2018 bị đơn trả nợ cho nguyên đơn 100.000.000đ (của số tiền 460.000.000đ vay ngày 04/9/2018) và số tiền còn nợ lại 360.000.000đ chưa thanh toán thì vẫn phải tính lãi từ ngày vay theo yêu cầu của nguyên đơn à c căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử xem xét.

[2.6] Đối v i yêu cầu của nguyên đơn về lãi theo quy định pháp luật. Xét thấy, tại các biên nhận vay tiền không ghi lãi cụ thể nhưng theo nguyên đơn trình bày à 2%/ngày, tương đương 60%/tháng, thỏa thuận này vượt quá quy định theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, nguyên đơn yêu cầu tính ãi theo quy định pháp luật và xác định yêu cầu tính lãi, cụ thế: Số tiền 360.000.000đ, nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 04/9/2018, số tiền 20.000.000đ tính ãi từ ngày 06/9/2018, số tiền 100.000.000đ tính ãi từ ngày 16/4/2019 cho đến ngày xét xử sơ thẩm à c căn cứ. hư vậy, Hội đồng xét xử xem xét tính lãi do bị đơn chậm thực hi n nghĩa vụ trả nợ à 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng theo quy định tại khoản 1 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

Số tiền 360.000.000đ, tính lãi từ ngày 04/9/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (11/9/2020) là 24 tháng 7 ngày x 360.000.000đ x 0,83%/tháng = 72.409.000đ;

Số tiền 20.000.000đ, tính ãi từ ngày 06/9/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (11/9/2020) là 24 tháng 05 ngày x 20.000.000đ x 0,83%/tháng = 4.011.000đ;

Số tiền 100.000.000đ, tính ãi từ ngày 16/4/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (11/9/2020) là 16 tháng 25 ngày x 100.000.000đ x 0,83%/tháng = 13.971.000đ;

T ng cộng tiền lãi là 90.391.000đ (số tiền lãi sẽ trừ vào 144.000.000đ do nguyên đơn đã nhận lãi).

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn đối v i bị đơn à c căn cứ, phù hợp v i quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận. o đ , ông S, bà K phải iên đ i trách nhi m trả cho ông Q số tiền như sau: Tiền gốc 480.000.000đ + tiền lãi 90.391.000đ – 144.000.000đ (tiền lãi nguyên đơn đã nhận) = 426.391.000đ ( ốn trăm hai mươi sáu tri u, a trăm chín mươi mốt nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn phải iên đ i nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 85, Điều 86; khoản 1 Điều 147; điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 244; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 27; Khoản 1 Điều 30; Điều 37 Luật H n nh n gia đình năm 2014;

Điều 2; Điều 6; Điều 7; Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;

Xử vắng mặt bị đơn S.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn Q đối v i bị đơn S, K

Buộc ông S, bà K phải iên đ i trách nhi m trả cho ông Q số tiền 426.391.000đ ( ốn trăm hai mươi sáu tri u, a trăm chín mươi mốt nghìn đồng).

Kể từ ngày ên được thi hành án c đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho ên được thi hành số tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng v i th i gian và số tiền chưa thi hành án.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm

Bị đơn S, K phải iên đ i nộp 21.055.000đ (hai mươi mốt tri u, không trăm năm mươi ăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn Q 13.600.000đ (mư i ba tri u, sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003095 ngày 03/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.

[3] Về quyền kháng cáo

guyên đơn Q; bị đơn K được quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn S được quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.

Trong trư ng hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hi u thi hành án được thực hi n theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Giải thích Điều 26 Luật Thi hành án dân sự)

Cỡ chữ