- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "VAY"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2020/DS-ST Ngày: 14/7/2020 V/v tranh chấp “Hợp đồng góp vốn và hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông TRẦN THANH TÙNG
2. Ông TỐNG VĂN TƯ
- Thư ký phiên tòa: Ông TRẦN MINH CƯỜNG - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà NGUYỄN VÕ LIÊN ANH - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2020/TLST–DS ngày 13 tháng 01 năm 2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị TRẦN THỊ N, sinh năm 1981 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Anh NGUYỄN TIẾN T, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
Chị HUỲNH THỊ C, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 23/9/2019, đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện và lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày:
Chị là thương lái mua lúa, gạo của người khác mang đến nhà máy, kho của vợ chồng Cẩm, Thanh để lau bóng, lưu gửi chờ có thương lái bán và vợ chồng Cẩm, Thanh mua gạo của chị cụ thể:
Chị N đã bán gạo cho vợ chồng chị C, anh T chưa thanh toán còn nợ lại số tiền 109.000.000đ. Ngày 29/5/2018, vợ chồng chị C, anh T còn mượn chị số tiền 1.000.000.000đ chưa thanh toán. Tổng cộng số tiền nợ là 1.109.000.000đ.
Chị yêu cầu khởi kiện buộc vợ chồng anh T, chị C liên đới thanh toán số tiền nợ còn thiếu là 1.109.000.000đ và chịu lãi bằng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định, kể từ ngày 01/8/2019 đến ngày Tòa án đưa vụ việc xét xử một lần ngay sau khi quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, theo đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, Chị N chỉ yêu cầu chị C, anh T phải liên đới trả số tiền tổng cộng 1.100.960.000đ, không yêu cầu tính lãi suất phát sinh.
Bị đơn anh Nguyễn Tiến T và chị Huỳnh Thị C: Không có văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Chị N, đồng thời vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vắng mặt không lý do.
Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và của các đương sự chấp hành đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Hiện tại thì chưa phát hiện sai sót gì để kiến nghị khắc phục. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc chị C, anh T liên đới trả số tiền 1.100.960.000đ. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Anh Nguyễn Tiến T, chị Huỳnh Thị C vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị C.
[2] Theo lời trình bày của nguyên đơn và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện vợ chồng anh T, chị C có thiếu tiền hùn vốn mua bán gạo của Chị N là 100.960.000đ và chị Cẩm có vay của Chị N số tiền 1.000.000.000đ chưa trả nên xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là tranh chấp hợp đồng góp vốn và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tại Tòa, nguyên đơn đã tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu bị đơn phải liên đới trả số tiền 8.040.000đ, không yêu cầu tính lãi suất phát sinh kể từ ngày 01/8/2019 đến ngày Tòa án đưa vụ việc xét xử một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật mà chỉ yêu cầu bị đơn phải liên đới trả số tiền còn thiếu tổng cộng là 1.100.960.000đ. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tôn trọng, chấp nhận quyền tự định đoạt của đương sự. Từ đó, đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là buộc bị đơn phải liên đới trả số tiền là 8.040.000đ, yêu cầu tính lãi suất phát sinh kể từ ngày 01/8/2019 đến ngày Tòa án đưa vụ việc xét xử một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về nội dung:
[4] Xét thấy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Cụ thể: Đối với số tiền 100.960.000đ, căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại biên bản ghi lời khai ngày 01/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè thì chị Cẩm thừa nhận có thiếu nợ tiền hùn vốn mua bán với Chị N là 109.000.000đ, còn bản thân Chị N tại biên bản ghi nhận việc giải quyết tranh chấp ngày 14/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè và tại phiên tòa chị cũng xác định đây thực chất là tiền hùn vốn làm ăn với chị C, anh T là chồng chị Cẩm cũng biết việc này. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Chị N tự nguyện xem xét kỹ lại sổ sách và khẳng định chị C, anh T chỉ còn thiếu lại chị số tiền 100.960.000đ chứ không phải số tiền 100.900.000đ như ban đầu. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Đồng thời, Chị N cho rằng vào thời điểm ngày 29/5/2018 chị có cho chị Cẩm vay số tiền 1.000.000.000đ để chị Cẩm có tiền đáo hạn Ngân hàng, anh Thanh cũng biết việc chị Cẩm thiếu tiền này của chị và bản thân chị Cẩm cũng có viết giấy nợ cho chị làm tin. Căn cứ vào kết luận giám định số 347/KTHS-Đ2 ngày 01/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang cho rằng chữ ký của chị Huỳnh Thị C trên tài liệu cần giám định là do cùng một người ký ra. Thêm vào đó, trong quá trình thụ lý vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho chị C, anh T để đảm bảo quyền nêu ý kiến, cũng như hoà giải để các bên có điều kiện thương lượng, thoả thuận vấn đề tranh chấp nhưng chị C, anh T vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, anh chị cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện anh, chị đã không phản bác đối với việc khởi kiện của Chị N. Cho nên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận và Toà án có đủ cơ sở buộc bị đơn anh Nguyễn Tiến T, chị Huỳnh Thị C phải có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn chị Trần Thị N số tiền tổng cộng là 1.100.960.000đ theo quy định tại Điều 288 Bộ luật dân sự.
[5] Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử; Bị đơn phải cùng liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[6] Xét ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 288, Điều 357, Điều 463, Điều 468, Điều 469, Điều 504 của Bộ luật dân sự; và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N.
Buộc anh Nguyễn Tiến T và chị Huỳnh Thị C phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Trần Thị N số tiền tổng cộng 1.100.960.000đ.
Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của Chị N là buộc chị C, anh T phải liên đới trả số tiền là 8.040.000đ, yêu cầu tính lãi suất phát sinh kể từ ngày 01/8/2019 đến ngày Tòa án đưa vụ việc xét xử một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Chị N có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh T, chị C chậm thi hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Về án phí: Chị C, anh T phải liên đới chịu 45.028.800đ án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Chị N số tiền 22.635.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 0002992 ngày 13/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cái Bè; - Chi cục THADS huyện Cái Bè; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM |