vanban.org

Bản án 80/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 30/09/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Đặng Thị Tuyết T phải trả cho nguyên đơn Phan Thị Minh P số tiền 85.150.000đ (tám mươi lăm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó tiền gốc là 78.000.000đ, tiền lãi là 7.150.000đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đặng Thị Tuyết T, Phan Thị Minh P vay tiền"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH PHÚ YÊN
__________
Bản án số: 80/2019/DS-ST
Ngày: 30/9/2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Diễm Anh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thuấn và bà Phan Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham

gia phiên tòa: Ông Trương Đức Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy

Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số

103/2019/TLST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài

sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2019/QĐXXST-DS ngày 22

tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Phan Thị Minh P, sinh năm 1980; Nơi cư trú: thôn H, xã

A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt

- Bị đơn: Đặng Thị Tuyết T, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Khu phố L,

phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn

Phan Thị Minh P trình bày như sau:

Ngày 06/6/2018 bà Phan Thị Minh P có cho bà Đặng Thị Tuyết T vay

số tiền 117.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, vay không có lãi và hẹn 03

ngày sẽ trả nợ. Tuy nhiên sau đó bà T không trả được nợ như cam kết, mà

chỉ trả dần nhiều lần và chốt đến ngày 15/10/2018 còn nợ lại 78.000.000 đồng. Quá trình vay tiền bà T có viết một giấy hẹn nợ ngày 22/8/2018 và một giấy thế chấp sổ bảo hiểm xã hội ngày 15/10/2018. Theo đó bà T cam kết trong vòng một tuần kể từ ngày 15/10/2018 sẽ hoàn trả đủ số tiền vay nhưng từ đó đến nay không thực hiện. Vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn Đặng Thị Tuyết T phải trả dứt điểm một lần số nợ gốc 78.000.000 đồng và tiền lãi tính theo quy định pháp luật từ ngày 30/10/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có ý kiến

trình bày và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

- Đại diện VKSND thành phố Tuy Hòa phát biểu quan điểm:

+Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội

đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

+Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX căn cứ các điều 357, 463, 466, 468

Bộ luật dân sự 2015; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 78.000.000 đồng và tiền lãi tính theo quy định pháp luật từ ngày 30/10/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên

đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả nợ tiền vay là tranh chấp về hợp đồng dân sự (vay tài sản); bị đơn có nơi cư trú tại khu phố L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu

tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố

tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu khởi kiện của đƣơng sự:

Đối với yêu cầu trả nợ gốc của nguyên đơn: Căn cứ giấy hẹn nợ ngày

22/8/2018, giấy thế chấp ngày 15/10/2018 và lời trình bày của nguyên đơn, có cơ

sở xác định ngày 06/6/2018 bị đơn Đặng Thị Tuyết T có vay của nguyên đơn

Phan Thị Minh P số tiền 117.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn

có trả dần nhiều lần, tính đến ngày 15/10/2018 còn nợ lại 78.000.000 đồng.

Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu nhưng bị đơn không trả nợ đúng cam kết là vi

phạm nghĩa vụ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Do

đó HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho

nguyên đơn số nợ gốc là 78.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi

theo quy định pháp luật của khoản nợ gốc 78.000.000 đồng từ ngày

30/10/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2019. Xét hợp đồng vay giữa hai

bên không có thỏa thuận lãi, ngày 15/10/2018 bị đơn viết giấy thế chấp sổ bảo

hiểm xã hội và hẹn trong vòng 1 tuần sẽ thanh toán dứt điểm nợ nên yêu cầu

tính lãi của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 357 và

468 Bộ luật dân sự 2015. HĐXX chấp nhận số tiền lãi như sau: Từ ngày

30/10/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2019 là 11 tháng x 10%/năm x

78.000.000 đồng = 7.150.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: tiền gốc

78.000.000 đồng + tiền lãi 7.150.000 đồng = 85.150.000 đồng.

Nguyên đơn Phan Thị Minh P phải trả cho bị đơn 01 sổ bảo

hiểm xã hội mã số 3902001241 đứng tên Đặng Thị Tuyết T.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp

luật là 4.257.500 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Đặng Thị

Tuyết T phải trả cho nguyên đơn Phan Thị Minh P số tiền 85.150.000đ (tám mươi lăm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó tiền gốc là 78.000.000đ, tiền lãi là 7.150.000đ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, nếu bị đơn chưa thi hành

xong số tiền nói trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành xong.

Nguyên đơn Phan Thị Minh P phải trả lại cho bị đơn Đặng Thị Tuyết T sổ

bảo hiểm xã hội mã số 3902001241 cấp ngày 16/3/2018.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị đơn Đặng Thị Tuyết T phải chịu 4.257.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho nguyên đơn Phan Thị Minh P số tiền 1.950.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0012557 ngày 19/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ