vanban.org

Bản án 80/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Về quyền kháng cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2018/HSST
Ngày: 08-05-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Đặng Mỹ Hạnh

Nghề nghiệp: Kỹ sư giáo dục – Hưu trí

2. Bà: Nguyễn Đinh Minh Phương

Nghề nghiệp: Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Quận 1

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, số 06 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2018/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Thanh T; ngày sinh 18-08-2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã Đ, huyện G, tỉnh X; chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, trình độ học vấn: 7/12, nghề nghiệp: Không, con ông Lê Thanh B (chết) và bà Sử Kim C, hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền án – tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 29-01-2018; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Hùng E, sinh năm 1989; HKTT: số 42 đường số 25A, phường T, Quận Y, Thành phố H (Vắng mặt).

- Người giám hộ cho bị cáo: bà Sử Kim C mẹ ruột bị cáo; trú tại: ấp T, xã Đ, huyện G, tỉnh X (Có mặt).

- Người bào chữa: Ông Bùi Quang L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, là luật sư chỉ định cho bị cáo Lê Thanh T (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29-01-2018, đối tượng Bờm không rõ lai lịch rủ Lê Thanh T đi tìm tài sản trộm cắp và T đồng ý. Sau đó, Bờm điều khiển xe hiệu Sirus không rõ biển số đăng ký chở T ngồi phía sau, khi đến trước số 241 Trần Hưng Đạo, phường Cô Giang, Quận 1 thì Bờm phát hiện xe gắn máy hiệu Wave biển số 68X1-114.94 dựng trên vỉa hè bên cạnh là anh Nguyễn Hùng E đang nằm ngủ cách 1 mét nên kêu T xuống lấy trộm. Lúc này Bờm dừng xe đứng đối diện để T đi bộ qua lấy trộm và đẩy bộ khoảng 05 mét thì T leo lên xe ngồi để Bờm điều khiển xe máy của mình đẩy phụ. Khi cả hai đến giao lộ Trần Hưng Đạo - Nguyễn Thái Học, Quận 1 thì bị các anh Nguyễn Đoan T và Phạm Phúc H đi tuần tra phát hiện bắt giữ T cùng vật chứng đưa về Công an phường Cô Giang, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Riêng đối tượng Bờm đã điều khiển xe gắn máy trốn thoát.

Quá trình điều tra, Lê Thanh T khai nhận do cần tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên đã cùng đối tượng Bờm thực hiện hành vi lấy trộm như trên.

Vật chứng vụ án gồm có:

- 01 xe gắn máy hiệu Honda, loại Wave biển số 68X1-144.94 theo Bản kết luận định giá tài sản số 28/ KLĐGTS ngày 02-02-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận có trị giá là 7.500.000 đồng

Tại Cáo trạng số 63/CT-VKSQ1 ngày 13 tháng 3 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 vẫn giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Thanh T về tội “ Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh T 06 tháng đến 09 tháng tù; 01 xe gắn máy hiệu Honda, loại Wave biển số 68X1-144.94 đã thu hồi trả lại cho người bị hại là anh Nguyễn Hùng E, anh E không có yêu cầu gì về khoản bồi thường dân sự.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật mà Đại diện Viện kiểm sát truy tố và luận tội đối với bị cáo; Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo một mức án đủ để răn đe và giáo dục đối với bị cáo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29-01-2018, tại trước nhà số 241 Trần Hưng Đạo, phường Cô Giang, Quận 1, Lê Thanh T có hành vi lén lút trộm cắp xe gắn máy hiệu Honda, loại Wave biển số 68X1-144.94. Như vậy, tài sản bị cáo trộm cắp là một xe gắn máy hiệu Honda, loại Wave biển số 68X1-144.94, theo Kết luận định giá số 28/ KLĐGTS ngày 02-02-2018 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận trị giá 7.500.000 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của người bị hại và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật mà Đại diện Viện kiểm sát truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo Lê Thanh T là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra; Bị cáo biết rất rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chính đáng nên vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, lúc phạm tội chưa đủ 18 tuổi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo các quy định trên như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Luật sư.

Về trách nhiệm dân sự:

Xe gắn máy đã thu hồi trả bị hại, bị hại không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo; bị hại, luật sư, người giám hộ được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điều 91 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày: 29-01-2018;

Về án phí:

Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, Luật sư, Người giám hộ cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ