- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 c a Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 con dao dài 26cm còn nguyên niêm phong c a cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Th y Nguyên (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2018/HS-ST Ngày 21-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đức Cảnh
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại tr s Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm v án hình sự th lý số 80/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 82/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Tô Văn T , sinh năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 3, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn T và bà Trần Thị M ; chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 126 ngày 29/7/2013 c a Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, tài sản chiếm đoạt trị giá 2.600.000 đồng (ra tù ngày 13/5/2014, thi hành án phí dân sự ngày 21/10/2013); bị áp d ng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 19/5/2018 đến ngày 22/5/2018 chuyển tạm giam; có mặt.
Bị hại: Anh Phạm Văn T , sinh năm 1984; địa chỉ: Xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền ăn tiêu nên Tô Văn T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Khoảng 2 giờ ngày 01/9/2014, Thương mang theo 01 con dao cán gỗ dài 26cm, đi xe mini màu xanh đến khu vườn nhà anh Phạm Văn T . T dựng xe rìa đường rồi trèo lên bờ tường bao, tay trái đỡ buồng chuối tay phải cầm dao chặt buồng chuối. T bê buồng chuối đặt phía sau xe đạp rồi điều khiển xe theo lối cũ đi về nhà, khi vừa đi được khoảng 300m thì bị lực lượng công an xã A phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ: 01 buồng chuối tây xanh 08 nải có 108 quả; 01 con dao dài 26cm, cán gỗ; 01 áo sơ mi màu trắng in chữ “Trường THCS ”; 01 áo phông có cổ bẻ màu trắng trước ngực có thêu chữ “B”; 01 xe đạp mini màu xanh đã buộc sẵn 02 thanh gỗ.
Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 15/9/2014 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Th y Nguyên kết luận: 01 buồng chuối tây có 108 quả c a anh T trị giá 270.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho anh T , anh T không có yêu cầu đề nghị gì.
Quá trình điều tra Tô Văn T bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th y Nguyên ra quyết định truy nã bị can, tạm đình chỉ điều tra v án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với T . Đến khoảng 20 giờ ngày 18/5/2018, Tô Văn T cùng Trần Văn V sinh năm 1986 xã A, huyện T, Hải Phòng trộm cắp c a anh Phạm Văn D , sinh năm 1972 xã C, huyện T, Hải Phòng 03 buồng chuối tây xanh trị giá 910.000 đồng, trên đường mang đi tiêu th bị bắt quả tang. Công an huyện Th y Nguyên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tô Văn T và Trần Văn V về hành vi trộm cắp tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, Tô Văn T khai nhận như trên.
Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 31 tháng 8 năm 2018 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên truy tố Tô Văn T về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 c a Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù; không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp d ng Điều 47 c a Bộ luật hình sự và Điều 106 c a Bộ luật tố t ng hình sự: Tịch thu tiêu h y đối với 01 con dao chiều dài 26cm, cán gỗ hình vuông dài 10 cm. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
Bị cáo Tô Văn T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan điều tra Công an huyện Th y Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th t c quy định c a Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố t ng c a thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định c a Bộ luật tố t ng hình sự.
. Tại phiên tòa bị cáo Tô Văn T khai cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện. Lời khai c a bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã được công bố, thẩm tra công khai tại phiên tòa. Tô Văn T đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, ngày 01/9/2014 có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 buồng chuối tây gồm 108 quả chuối c a anh Phạm Văn Toản trị giá tài sản là 270.000 đồng. Hành vi c a Tô Văn T thực hiện trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, áp d ng hướng dẫn tại Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 c a Quốc hội thì hành vi nêu trên c a Tô Văn T đã phạm tội Trộm cắp tài sản, quy định khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng c a hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại gây ra không lớn là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, điểm h khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật hình sự.
. Về phần hình phạt: Căn cứ vào mức độ hành vi phạm tội c a bị cáo, căn cứ vào sự thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải c a bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, có thể áp d ng mức hình phạt tù trên mức kh i điểm c a khung hình phạt tù là thỏa đáng. Khoản 5 Điều 173 c a Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, nhưng bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không phạt tiền bị cáo.
. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì nên hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: 01 con dao chiều dài 26 cm, cán gỗ hình vuông dài 10 cm là vật chứng c a v án cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Tô Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo Tô Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 19 tháng 5 năm 2018 .
Về xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 c a Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 con dao dài 26cm còn nguyên niêm phong c a cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Th y Nguyên (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 8 năm 2018 và phiếu nhập kho số NK2018/103 ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại Chi c c thi hành án dân sự huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTTQH c a Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Tô Văn T phải nộp 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Tô Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên; - Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên; - Trại giam công an thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên; - TAND thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Chi c c THADS huyện Thuỷ Nguyên; - S Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Lý |