vanban.org

Bản án 80/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 08/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Hồng P 6 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hồng P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2018/HS-ST
Ngày: 08-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Trình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hiền

Bà Trần Thị Kim Mỹ

Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Út - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Vàng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 81/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

TRẦN HỒNG P, sinh ngày: 14/12/1999 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 97/2D, ấp A, xã M, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 255D, khu phố B, Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh T (không rõ nơi cư trú) và bà Trần Thị H; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2018. (Có mặt)

- Bị hại:

Lê Bình L, sinh năm: 1985;

Nơi cư trú: Số 269D, khu phố B, Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ ngày 03/8/2018, Trần Hồng P đi bộ một mình từ nhà ở Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre ra khu Sao Mai ở Phường B, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Khi đi qua ngang nhà số 269D, khu phố B, Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, P phát hiện bên trong nhà không ai trông coi nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, P leo qua cửa rào, đột nhập vào phòng khách lấy trộm 01 ti vi nhãn hiệu SONY màu đen, Model NO KDL 43W800F SER NO 5532654 của anh Lê Bình L rồi đem về nhà của P ở số 255D, khu phố B, Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre cất giấu dưới ghế salon. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Công an Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre kiểm tra hành chính nhà của P thì phát hiện tivi của P trộm của anh L nên tiến hành thu giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 ti vi nhãn hiệu SONY màu đen, Model NO KDL 43W800F SER NO 5532654.

Theo Bản kết luận định giá trị tài sản số 855/KL-HĐĐG ngày 08/8/2018 của Hội đồng định giá thành phố Bến Tre kết luận: 01 ti vi nhãn hiệu SONY màu đen, Model NO KDL 43W800F SER NO 5532654, trị giá vào ngày 03/8/2018 là 12.150.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKSTPBT ngày 10 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Trần Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Hồng P từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị hại Lê Bình L tài sản bị chiếm đoạt là 01 ti vi nhãn hiệu SONY màu đen và không yêu cầu gì thêm. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

Bị cáo Trần Hồng P có lời khai tại phiên tòa là vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 03/8/2018 tại nhà số 269D, khu phố B, Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại Lê Bình L 01 ti vi nhãn hiệu SONY màu đen đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ tang vật. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật về đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên sơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Trần Hồng P tại phiên tòa là vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 03/8/2018 tại nhà số 269D, khu phố B, Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại Lê Bình L 01 ti vi nhãn hiệu SONY màu đen đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ tang vật. Đối chiếu với lời khai của bị hại và các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra là phù hợp nhau. Giá trị tài sản của bị hại bị chiếm đoạt được Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xác định là 12.150.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với giá trị, không khiếu nại gì, Hội đồng xét xử căn cứ giá trị Hội đồng định giá xác định để xét xử đối với bị cáo. Bị cáo P có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện và hậu quả đã xảy ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, sinh hoạt hằng ngày.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Mặc dù nhân thân được xác định là không có tiền án tiền sự, nhưng qua xem xét quá trình hoạt động của bản thân thì trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đang xử lý. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng như phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo theo quy định tại h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Lê Bình L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 ti vi nhãn hiệu SONY màu đen, Model NO KDL 43W800F SER NO 5532654 và không yêu cầu gì thêm nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị hại Lê Bình L tài sản bị chiếm đoạt là 01 ti vi nhãn hiệu SONY màu đen, Model NO KDL 43W800F SER NO 5532654. Xét thấy, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo Trần Hồng P “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Trần Hồng P phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Hồng P 6 (Sáu) tháng tù;

Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2018.

2. Áp dụng 48 Bộ luật Hình sự:

Ghi nhận bị hại Lê Bình L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 (Một) ti vi nhãn hiệu SONY màu đen, Model NO KDL 43W800F SER NO 5532654 và không yêu cầu gì thêm.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị hại Lê Bình L tài sản bị chiếm đoạt là 01 (Một) ti vi nhãn hiệu SONY màu đen, Model NO KDL 43W800F SER NO 5532654.

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Hồng P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ