vanban.org

Bản án 80/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Xử ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2018/HS-ST
Ngày: 30/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh Thu;

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tạo Giáp

Ông Nguyễn Minh Tú

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2018/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2018/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn Đồng Hèo, xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn S (đã chết); con bà: Lý Thị Th, sinh năm 1943; Vợ: Nguyễn Thị Tr, sinh 1990; Hai con: Trần Nguyễn Hữu Thành, sinh 2014 và Trần Hữu Đạt, sinh 2016.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 71/HSST ngày 12/8/2015, Tòa án huyện Sơn Dương, Tuyên Quang xử phạt 10 tháng tù về tội Đánh bạc; Trần Văn D kháng cáo. Bản án hình sự phúc thẩm số 56/HSPT ngày 25/9/2015, Tòa án tỉnh Tuyên Quang xử phạt Trần Văn D 8 tháng tù. Ra trại ngày 29/4/2016 ( chưa được xóa án tích).

Nhân thân: Bản án số 82/HSST ngày 24/9/2009, Tòa án huyện Sơn Dương, Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù; Trần Văn D kháng cáo. Bản án hình sự phúc thẩm số 89/HSPT ngày 21/12/2009, Tòa án tỉnh Tuyên Quang xử phạt Trần Văn D 9 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (đã được xóa án tích).

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

Người bị hại: Cty An Th; địa chỉ: Tổ dân phố Hồng Ngự, phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Tuyển - Chức vụ Giám đốc. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 75 khu B, đường Vành Khuyên, tổ dân phố Nhật Tảo 4, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Anh Đinh Công V, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu 1, xã Võ Lao, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 4 giờ ngày 3/2/2018, Trần Văn D là lái xe của Cty An Th điều khiển xe ô tô tải BKS 29C-60911 về bãi xe của Công ty tại Bến Chèm, phường Thụy Phương để cất xe. Lúc này, ở bãi xe không có người, D đi vào trong xưởng hàn lấy 01 bánh răng hộp số hình trụ tròn bằng sắt dài khoảng 40cm và 01 bích sắt hình tròn, đường kính 30cm, độ dày 1,2cm đem ra cabin của xe tải BKS 29C-60911 cất giấu. Tiếp đó, lấy 01 chân kệ bơm thủy lực bằng sắt, hình tròn, đường kính 50cm, độ dày khoảng 0,5cm ở bên ngoài nhà xưởng gần chỗ D đỗ xe khoảng 1m, cách nhà xưởng khoảng 5 mét và mang ra cất giấu tại bình dầu của xe tải trên. Sau khi trộm cắp tài sản, D đi ăn sáng và quay về ngủ trên xe. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, D điều khiển xe tải trên đến Cửa hàng thu mua phế liệu của chị Đinh Thị H tại số 75 đường Vành Khuyên, tổ dân phố Nhật Tảo 4, phường Đông Ngạc, bán số tài sản trộm cắp được cho chị H được 1.150.000 đồng và sử dụng số tiền trên để tiêu sài cá nhân hết.Ngày 7/2/2018, anh Nguyễn Văn Thành - Phó Giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư

An Thành đến Công an phường Thụy Phương trình báo.

Qua đấu tranh, D còn khai nhận: khoảng đầu tháng 1/2018, D trộm cắp 01 thanh sắt hình chữ V, rộng khoảng 7cm, dài khoảng 1m bên ngoài xưởng hàn của Cty An Th và D mang cất dấu tại cabin xe tải BKS 29C-60911. Lúc đó, D nhìn trong cabin còn có mấy thanh sắt vụn dài khoảng 20cm. Ngày hôm sau, D gọi cho bạn là Đinh Công Việt là lái xe cùng công ty với D và bảo Việt trên xe có ít sắt bán đi lấy tiền ăn tiêu, D không nói cho Việt biết 01 thanh sắt do D trộm cắp mà có. Sau đó, D và Việt mang số sắt trên đến bán cho Cửa hàng sắt vụn của chị Đinh Thị H được 290.000 đồng. Số tiền trên Việt và D đã chi tiêu hết.

Ngày 8/2/2018, Cơ quan công an đã dẫn giải Trần Văn D đến nơi trộm cắp tài sản và nơi D tiêu thụ tài sản trộm cắp và thu giữ số tài sản D đã trộm cắp: 01 bánh răng hộp số hình trụ tròn, bằng sắt dài khoảng 40cm;01 chân kệ bơm thủy lực bằng sắt, hình tròn đường kính 50cm, độ dày khoảng 0,5cm;01 bích sắt hình tròn, đường kính 30cm, độ dày 1,2cm.

Tại kết luận định giá tài sản số 20 ngày 16/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm có kết luận:

-01 bánh răng hộp số hình trụ tròn, dài 40 cm, trọng lượng 43kg, tài sản đã qua sử dụng, hiện vẫn còn sử dụng được, trị giá 1.290.000 đồng;

-01 chân kệ bơm thủy lực bằng sắt hình tròn, đường kính 50cm, dày 0,5cm, trọng lượng 73kg, tài sản đã qua sử dụng, hiện vẫn còn sử dụng được, trị giá 1.314.000 đồng;

-01 bích sắt hình tròn, đường kính 30cm, dày 1,2cm, trọng lượng 17kg, tài sản đã qua sử dụng, hiện vẫn còn sử dụng được, trị giá 204.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản Trần Văn D trộm cắp là 2.808.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra: Trần Văn D khai nhận hành vi của mình như trên và khai khi bán số tài sản trộm cắp, D không nói cho chị H biết đó là tài sản do D trộm cắp mà có. Số tiền do bán sắt có được, D đã chi tiêu cá nhân hết.

Anh Nguyễn Văn Thành - Đại diện theo ủy quyền của Công ty An Thành trình báo công ty bị trộm cắp số tài sản như trên và trình bày: Đối với thanh sắt hình chữ V D khai trộm cắp tại Công ty vào khoảng đầu tháng 1/2018, công ty không biết D trộm cắp và cũng không biết thanh sắt mất khi nào, do giá trị tài sản nhỏ nên công ty không yêu cầu định giá và không yêu cầu xử lý Trần Văn D về hành vi này.

Đối với chị Đinh Thị H và anh Đinh Công Việt: quá trình điều tra xác định khi tiêu thụ số tài sản trên của D, không biết là tài sản do D phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Về trách nhiệm dân sự: Chị H không yêu cầu Trần Văn D bồi thường gì.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng trả số tài sản D trộm cắp được cho người bị hại. Cty An Th đã nhận lại số tài sản trên và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Đối với 01 thanh sắt Trần Văn D trộm cắp khoảng đầu tháng 1/2018, do giá trị nhỏ, Công ty An Thành không yêu cầu định giá nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Trần Văn D về hành vi này.

Tại bản cáo trạng số: 77/CT-VKSBTL ngày 07 tháng 5 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Trần Văn D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng được thu giữ, kết luận định giá cùng các tài liệu chứng cứ khác. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 4 giờ ngày 03 tháng 02 năm 2018, tại Cty An Th thuộc khu vực Bến Chèm, tổ dân phố Hồng Ngự, phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, Trần Văn D lợi dụng công ty không có người trông giữ tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt:

- 01 bánh răng hộp số hình trụ tròn, dài 40cm, trọng lượng 43kg, trị giá 1.290.000 đồng,

- 01 chân kệ bơm thủy lực bằng sắt hình tròn, đường kính 50cm, dày 0,5cm, trọng lượng 73kg,trị giá 1.314.000 đồng,

- 01 bích sắt hình tròn, đường kính 30cm, dày 1,2cm, trọng lượng 17kg, trị giá 204.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của Công ty An Thành là 2.808.000 đồng (Hai triệu tám trăm linh tám nghìn đồng).

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Trần Văn D như trên đã phạm tội“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Chỉ vì mục đích tư lợi, bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, chiếm đoạt tài sản của chính công ty mình làm việc, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị đưa ra xét xử, trong đó tại bản án hình sự phúc thẩm số 56/HSPT ngày 25/9/2015 của Tòa án tỉnh Tuyên Quang chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân nay lại cố ý phạm tội nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm”, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được trả lại cho người bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm,thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về trách nhiệm dân sự: Cty An Th đã nhận lại tài sản và chị Đinh Thị H không có yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên bản án không xem xét.

. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 1.150.000 đồng là tiền bán được tài sản do phạm tội mà có, chị H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước.

Vật chứng: 01 bánh răng hộp số hình trụ tròn bằng sắt, 01 chân kệ bơm thủy lực bằng sắt, 01 bích sắt hình tròn. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu nên bản án không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

3. Xử phạt bị cáo Trần Văn D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

4. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu của Trần Văn D 1.150.000 đồng (một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

5. Vật chứng, trách nhiệm dân sự: Không.

6. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ