vanban.org

Bản án 80/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. An Dương, TP. Hải Phòng Tuyên án 27/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói mẫu vật gửi giám định có dấu niêm phong của cơ quan giám định số 500/20…

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Thị Y phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói mẫu vật gửi giám định có dấu niêm phong của cơ quan giám định số 500/20…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2018/HS-ST
Ngày 27-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Đắc Từ

Bà Đồng Thị Thường

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Mai Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Thị Y, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, Nông X, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn 1, K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trác T và bà Nguyễn Thị N; chưa có chồng, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12 tháng 9 năm 2018, tạm giam từ ngày 20 tháng 9 năm 2018; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại thôn 1, K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, lực lượng Công an huyện An Dương phối hợp với lực lượng Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang Lê Thị Y có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Y 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 01QT), Y khai nhận là ma túy đá Y đang cầm đi bán cho khách. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Y, lực lượng Công an thu giữ trong tủ kệ nhà Y 01 túi vải màu đen nhãn hiệu POND’S, bên trong có 04 túi nilong nhỏ kích thước 02x02cm trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 01KX), 01 túi nilong kích thước 05x09cm, trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 01KX), 01 cân tiểu ly màu đen, 01 ống nhựa hình trụ tròn màu hồng có 01 đầu vót nhọn dài 10cm, 20 vỏ túi nilong nhỏ kích thước 02x02cm không có gì bên trong.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã tiến hành thủ tục giám định đối với tinh thể mầu trắng thu giữ của Y nghi là chất ma túy, kết quả tại Kết luận giám định số 500/KLGĐ (Đ6) ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Mẫu tinh thể (mẫu số 01 QT) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4594 gam, là loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể (mẫu số 01 KX) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 9,7320 gam, là loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan điều tra Lê Thị Y khai nhận: Do không có việc làm ổn định nên nảy sinh ý định mua ma túy về bán để kiếm lời. Cách ngày bị bắt khoảng một tuần, Y được 01 người phụ nữ tên N khoảng 30 tuổi, quê ở Nam Định (là bạn xã hội, không rõ lai lịch) giới thiệu người tên Anh T ở đường tàu Cầu Đất, Hải Phòng có bán ma túy. Theo lời giới thiệu của N, Y đến một quán nước ở khu vực đường tàu Cầu Đất để giao dịch. Sau đó, có 01 nam thanh niên khoảng 20 tuổi, xưng là em của Anh T đến gặp Y và nhận số tiền 2.400.000đồng từ Y, một lúc sau có 01 nam thanh niên khác mang ma túy đá đến và giao cho Y và Y mang số ma túy trên về nhà dùng số dụng cụ thu giữ được tại nhà chia nhỏ ma túy ra để bán kiếm lời.

Khoảng hơn 15 giờ ngày 12 tháng 9 năm 2018, Y đang ở nhà tại thôn 1, K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng thì có 01 người đàn ông không quen biết sử dụng số điện thoại 01636208722 gọi cho Y vào số điện thoại 0963124760 hỏi mua của Y 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Y đồng ý và hẹn người này ở đầu ngõ gần nhà Y. Sau đó Y cầm 01 gói ma túy trong lòng bàn tay phải đi ra ngoài ngõ để bán cho người đàn ông đó. Khi đang đứng đợi khách thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.

Ngoài ra, Lê Thị Y còn khai nhận: Y bán ma túy đá tại nhà được khoảng 04 ngày thì bị công an bắt. Mỗi ngày Y bán được cho khoảng hai đến ba người, mỗi lần bán từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng một gói ma túy đá. Số tiền bán ma túy có được, Y sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân hàng ngày nên không rõ là lãi được bao nhiêu tiền. Tuy nhiên, ngoài lời khai của Y, không còn tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện việc Y mua bán ma túy nhiều lần.

Bản Cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Thị Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Thị Y khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Thị Y từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Phạt tiền bị cáo 10.000.000đồng.

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì kèm theo, 01 túi vải màu đen nhãn hiệu POND’S, 01 cân tiểu ly màu đen, 01 ống nhựa hình trụ tròn màu hồng có 01 đầu vót nhọn dài 10cm, 20 vỏ túi nilong nhỏ kích thước 02x02cm; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, con gái bị cáo còn nhỏ nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

- Về chứng cứ xác định có tội và tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Y khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điểu tra, với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp chỗ ở, với vật chứng đã thu giữ, với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại khu vực thôn 1, K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, bị cáo Lê Thị Y có hành vi bán trái phép 0,4594 gam ma túy là loại Methamphetamine trong lúc chờ giao dịch thì bị bắt quả tang, đồng thời bị cáo cất giữ 9,7320 gam ma túy Methamphetamine để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine bị cáo cất giữ trái phép với mục đích để bán kiếm lời là 10,1914 gam, như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Đây là một tệ nạn xã hội đã và đang gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

- Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định, 01 túi vải màu đen nhãn hiệu POND’S, 01 cân tiểu ly màu đen, 01 ống nhựa hình trụ tròn màu hồng có 01 đầu vót nhọn dài 10cm, 20 vỏ túi nilong nhỏ kích thước 02x02cm: Đây là vật cấm lưu hành và bị cáo sử dụng để cất giữ, chia nhỏ ma túy, do liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng nhạt là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo dùng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Về vấn đề khác:

Việc bị cáo khai đã bán ma túy tại nhà 04 ngày trước lúc bị bắt nhưng ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh về việc bán ma túy của bị cáo trong thời gian trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A không có đủ căn cứ để Xc định bị cáo đã bán ma túy nhiều lần như Kiểm sát viên đã nêu tại phiên tòa.

Đối với người đàn ông gọi điện mua ma túy, người phụ nữ tên N giới thiệu chỗ bán ma túy cho bị cáo, người tên Anh T và 02 nam thanh niên mang ma túy đến giao cho bị cáo và nhận tiền của bị cáo, hiện chưa Xc định được lai lịch cụ thể nên Cơ quan công an tiếp tục điều tra làm rõ.

- Về án phí và quyền kháng cáo:

Theo quy định của pháp luật bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Thị Y 09 (Chín) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", thời hạn tù của bị cáo Lê Thị Y tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 12 tháng 9 năm 2018. Phạt tiền bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói mẫu vật gửi giám định có dấu niêm phong của cơ quan giám định số 500/2018/PC09, 01 túi vải màu đen nhãn hiệu POND’S, 01 cân tiểu ly màu đen, 01 ống nhựa hình trụ tròn màu hồng có 01 đầu vót nhọn dài 10cm, 20 vỏ túi nilong nhỏ kích thước 02x02cm; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng nhạt, đã qua sử dụng (Toàn bộ các vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện A đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 11 năm 2018).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Thị Y phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ