- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hiền - Dương Văn O"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Dương Văn O.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2018/HNGĐ-ST Ngày 30-8-2018 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Văn Lộc;
2. Ông Hoàng Đình Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hồng Vinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 08 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 451/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp H, xã H1, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Dương Văn O, sinh năm 1978; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp H, xã H1, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 11-6-2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Dương Văn O tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 nhưng đến ngày 28-11-2008 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H1, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh O thường xuyên uống rượu. Suốt từ năm 2009 đến nay, anh O chỉ tụ tập bạn bè uống rượu mà không làm bất cứ việc gì. Mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình đều do một mình chị lo liệu. Chị và các anh em bên chồng đã góp ý nhiều lần nhưng không có kết quả và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh O không còn nên chị xin được ly hôn anh O.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Dương Văn Hậu, sinh năm 1997 và cháu Dương Dĩ Hào, sinh ngày 17/7/2002. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Hào và không yêu cầu anh O phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Hậu đã thành niên, có khả năng tự lao động sinh sống nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 17-7-2018 và biên bản hòa giải ngày 08-8-2018, bị đơn anh Dương Văn O trình bày:
Anh thừa nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Nguyễn Thị H trình bày là đúng. Năm 2016, vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn là do chị H bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị H xin ly hôn, anh không đồng ý vì còn thương chị H. Nguyện vọng của anh là muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau chăm sóc con chung.
Về nuôi con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Hậu và cháu Hào như chị H trình bày. Hiện cháu Hậu đã thành niên, đối với cháu Hào nếu Tòa chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho ly hôn thì anh yêu cầu Tòa giải quyết giao cháu Hào cho chị H nuôi.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện VKSND huyện Châu Thành phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 19, 56, 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh O. Về nuôi con chung: Giao cháu Hào cho chị H trực tiếp nuôi, đối với cháu Hậu đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn, anh Dương Văn O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh O.
Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Dương Văn O tổ chức đám cưới vào năm 1997, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh ngày 28-11-2008 (giấy chứng nhận kết hôn số: 16, quyển số: 12) nên hôn nhân của chị H và anh O là hôn nhân hợp pháp kể từ ngày 28-11-2008. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh O thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu, không chịu làm việc để kiếm thêm thu nhập, cùng chị H chăm lo cho cuộc sống gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Anh O có nguyện vọng đoàn tụ vì cho rằng còn yêu thương chị H, nhưng qua kết quả xác minh thể hiện, trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh O vẫn thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu và không quan tâm đến vợ con. Về phía chị H cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên không thể tiếp tục chung sống với anh O. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luât hôn nhân và gia đình Tòa án chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh O.
Về nuôi con chung: Chị H và anh O có 02 con chung là Dương văn Hậu, sinh năm 1997 và Dương Dĩ Hào, sinh ngày 17/7/2002. Cháu Hậu đã thành niên nên không giải quyết. Đối với cháu Hào có nguyện vọng sống cùng chị H. Chị H có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên việc chị H và anh O thỏa thuận giao cháu Hào cho chị H trực tiếp nuôi và chị H không yêu cầu anh O cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai thu số 0018532 ngày 11 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Dương Văn O.
2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi con chung Dương Dĩ Hào, sinh ngày 17/7/2002. Anh Dương Văn O có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai thu số 0018532 ngày 11 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Châu Thành; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Phƣơng |