vanban.org

Bản án 80/2018/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 06/04/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Q và giữ nguyên quy t định Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Vũ Thị Q kiện Chủ tịch UBND TPHCM"
  • Tòa quyết gì? phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật tố tụng hành chính

Số: 80/2018/HC-PT

Ngày: 06/04/2018

TÒ ÁN NHÂN DÂN CẤP C O CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M ————————— ——————————————————— Ngày 06 – 4 – 2018 “V/v khi u kiện QĐHC về QLĐĐ trong trường hợp hỗ trợ, di dời diện tích” NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN NHÂN DÂN CẤP C O TẠI THÀNH PH HỒ CHÍ MINH - Th nh phần Hội đ ng xét xử phúc thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Huỳnh Công Lý Các Thẩ phán: Ông Phạm Công Mười Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th nh phố H Chí Minh: Ông Phạm Văn Nhàn – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp hỗ trợ, di dời diện tích”. 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. 12 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự: 1.

Người khởi kiện: Bà Vũ Thị Q, sinh năm 1943; Địa chỉ: đường Đ, phường B, quận X, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Trịnh Đắc M, sinh năm 1964. Địa chỉ: phường Y, quận B, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt (theo giấy ủy quyền ngày 29/12/2015). 2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: Số 86 Lê Thánh Tôn, phường B n Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu vắng mặt từ cấp sơ thẩm).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Phan Ngọc Anh H, sinh năm 1975 (có mặt). 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 3.1/ Ủy ban nhân dân quận B. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Phan Ngọc Anh H, sinh năm 1975 (có mặt – theo văn bản ủy quyền số 107/GUQ-UBND ngày 21/12/2016). 3.2/ Bà Phạm Thị Kim K. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Trịnh Đắc M, sinh năm 1964. Địa chỉ: phường Y, quận B, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt (theo văn bản ủy quyền ngày 05/4/2018). 4. Người kháng cáo: Bà Vũ Thị Q – là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 05/02/2008, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quy t định số: 616/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng chuẩn bị thực hiện dự án xây dựng tuy n đường sắt đô thị B n Thành – Suối Tiên tại phường 19, 21, 22 và 25, quận B. Đ n ngày 10/6/2009, Ủy ban nhân dân thành phố có Quy t định số: 2917/QĐ-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung Quy t định 616 về tên các tổ chức ảnh hưởng đ n dự án. Ngày 15/4/2009, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quy t định số: 2587/QĐ-UBND về phê duyệt Phương án số: 109/PA-UBND ngày 13/4/2009 và dự toán chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Ngày 24/3/2014, Ủy ban nhân dân quận B có Quy t định số: 1812/QĐ- UBND về việc hỗ trợ thu dọn, di dời diện tích 1.300m2 rau muống do bà Phạm Thị Kim K - bà Vũ Thị Q canh tác trên rạch Văn Thánh, quận B với số tiền là 15.600.000 đồng. Ngày 21/8/2014, Ủy ban quận B có Quy t định số: 6112/QĐ- UBND về việc bổ sung hỗ trợ thu dọn, di dời cho bà K và bà Q với số tiền 10.400.000 đồng. Nhận được Quy t định 1812, bà Q đã khi u nại đề nghị được hỗ trợ bằng 30% đơn giá đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư đối với phần diện tích 1.300m2 rau muống trên rạch và hỗ trợ đám rau muống với giá 100.000đồng/m2. Ngày 14/02/2015, Chủ tịch Ủy ban quận B ban hành quy t định giải quy t khi u nại số: 1073/QĐ-UBND không công nhận nội dung khi u nại của bà Vũ Thị Q. Không đồng ý nên bà Q ti p tục khi u nại đ n Ủy ban nhân dân thành phố. Ngày 06/7/2015, Chủ tịch Ủy ban thành phố ban hành quy t định giải quy t khi u nại (lần 2) số: 3317/QĐ-UBND không chấp nhận khi u nại của bà Q, công nhận và giữ nguyên Quy t định số: 1073/QĐ-UBND. * Theo đơn khởi kiện ngày 16/6/2016, người khởi kiện bà Vũ Thị Q trình bày: Bà yêu cầu hủy Quy t định số: 3317/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân

dân thành phố với lý do diện tích 1.300m2 rau muống được chủ cũ sử dụng canh tác trước ngày 15/10/1993, đ n năm 2002 mới chuyển nhượng lại cho bà và bà K theo Giấy sang nhượng hoa màu ngày 25/02/2002, bà và bà K sử dụng liên tục từ ngày nhận chuyển nhượng cho đ n ngày bị thu hồi, không có ai tranh chấp; Phần diện tích này được bao quanh h t ¾ là đất ao nên là ao chứ không phải là rạch. Việc Ủy ban nhân dân quận B xác định phần diện tích là rạch để không giải quy t hỗ trợ hoa màu theo đơn giá 100.000đ/m2 và không bồi thường, hỗ trợ bằng 30% giá đất ao hồ liền kề khu dân cư là không đúng với quy định của Luật Đất đai năm 2003; Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị định 84, Nghị định 69 và Nghị định 181 của Chính phủ. * Tại Văn bản số: 7707/UBND-NCPC ngày 29/12/2016, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q như sau: Tại Biên bản ti p xúc ngày 12/3/2014 giữa Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận B và bà K, bà Q đã thống nhất với vị trí trên bản đồ đính kèm với diện tích canh tác rau muống trong ranh giải tỏa là 1.300m2. Căn cứ Bản đồ địa hình chụp năm 1982; Điều ảnh thực t năm 1988 thể hiện phần lớn thửa số 94 là rạch và rau trên rạch. Theo tài liệu 299/TTg trên nền bản đồ địa chính phường 22 lập năm 2002 thì phần lớn thửa 94 có hiện trạng là rạch và hồ Văn Thánh. Ủy ban quận B xác định phần diện tích bà Q sử dụng canh tác rau muống là rạch không phải là đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và tính đơn giá hỗ trợ rau muống 20.000 đồng/m2 là đúng quy định. Yêu cầu khởi kiện của bà Q không có cơ sở, đề nghị Tòa án xét xử theo hướng giữ nguyên Quy t định số: 3317/QĐ- UBND. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân quận B có ông Phan Ng c Anh H đại diện trình bày: Theo Giấy nhận tiền cọc ngày 29/3/2002 thì giữa bà Nguyễn Thị H1, bà Phạm Thị Kim K và bà Vũ Thị Q có thỏa thuận việc chuyển nhượng đám rau muống với diện tích 1.950m2. Theo bản vẽ hiện trạng và tài liệu 299/TTg thì phần diện tích do bà K và bà Q sử dụng canh tác trồng rau muống nằm trong ranh giải tỏa dự án xây dựng tuy n đường sắt B n Thành – Suối Tiên là 1.300m2 là một phần thửa số 94, tờ bản đồ số 1, phường 22, quận B, thuộc rạch và hồ Văn Thánh, là đất công do nhà nước quản lý. Căn cứ vào các văn bản: Quy t định 616; Quy t định số 17/2008/QĐ-UBND ngày 14/3/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Phương án 109/PA-UBND ngày 13/4/2009; Công văn 6796/UBND- ĐTMT ngày 18/12/2013 của Ủy ban Thành phố quy định về giải quy t khi u nại của một số hộ dân tại thửa đất số 94, tờ bản đồ số 1, Phường 22 quận B trong dự án xây dựng tuy n Metro số 1; Công văn số 1753/UBND-ĐTMT ngày 24/4/2014 của Ủy ban Thành phố về áp dụng đơn giá hỗ trợ thiệt hại hoa màu tại thửa đất số 94, tờ bản đồ số 1; Công văn 243/HĐTĐBT-KTĐ ngày 17/4/2014 của Sở tài nguyên và Môi trường về ki n nghị áp dụng đơn giá hỗ trợ hoa màu (rau muống) tại thửa đất số 94, tờ bản đồ số 1 theo tài liệu 299/TTg tại phường 22, quận B thuộc dự án

xây dựng tuy n đường sắt đô thị B n Thành – Suối Tiên. Ủy ban quận B ban hành Quy t định số: 1812/QĐ-UBND và số: 6112/QĐ-UBND về việc hỗ trợ và bổ sung hỗ trợ thu dọn, di dời diện tích rau muống với tổng số tiền 1.300m2 x 20.000 đồng = 26.000.000 đồng. Không đồng ý với đơn giá 20.000 đồng/m2 bà Q khi u nại tại Ủy ban quận B và Ủy ban Thành phố yêu cầu hỗ trợ theo đơn giá 100.000 đồng/m2 rau muống và bằng 30% đơn giá đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư. Tại Quy t định số: 1073/QĐ-UBND Chủ tịch Ủy ban quận B không công nhận nội dung khi u nại và tại Quy t định số: 3317/QĐ-UBND Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đã công nhận và giữ nguyên Quy t định số: 1073/QĐ-UBND. Việc hỗ trợ thu dọn, di dời đối với diện tích rau muống do bà Q canh tác trên rạch Văn Thánh Chủ tịch Ủy ban quận B đã giải quy t đúng theo tinh thần các văn bản trên. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạ Thị Ki K có ông Trịnh Đắc M đại diện trình bày: Bà K thống nhất với các lời trình bày của bà Q. Tại bản án hành chính sơ thẩ số: 760/2017/HC-ST ngày 22/6/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Q về việc yêu cầu hủy Quy t định số: 3317/QĐ-UBND ngày 06/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quy t khi u nại. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 04/7/2017, người khởi kiện là bà Vũ Thị Q làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên kháng cáo; các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quy t vụ án. Ý ki n của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Q và giữ nguyên quy t định của bản án sơ thẩm. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: [1] Năm 2008, thực hiện Dự án xây dựng tuy n đường sắt đô thị B n Thành – Suối Tiên, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành quy t định số: 616/QĐ-UBND thu hồi đất một số khu vực thuộc phường 19, 21, 22 và 25 quận B, trong đó có 1.300m2 vị trí bà Vũ Thị Q và Phạm Thị Kim K đang trồng rau muống. Ngày 24/3/2014, Ủy ban nhân dân quận B ban hành quy t định số: 1812/QĐ- UBND về việc hỗ trợ thu dọn, di dời diện tích 1.300m2 rau muống do bà K và bà Q canh tác trên rạch Văn Thánh, quận B với số tiền 15.600.000 đồng, đ n ngày 21/8/2014 Ủy ban nhân dân quận B ban hành ti p quy t định số: 6112/QĐ-UBND về việc bổ sung hỗ trợ thu dọn, di dời cho bà K và bà Q số tiền 10.400.000 đồng.

Không đồng ý với việc bồi thường như trên nên bà Vũ Thị Q khi u nại. Ngày 14/02/2015, Chủ tịch UBND quận B giải quy t khi u nại lần đầu (quy t định số: 1073/QĐ-UBND) và ngày 06/7/2015 Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh giải quy t khiều nại lần 2 (quy t định số: 3317/QĐ-UBND), cả 2 quy t định trên đều bác đơn khi u nại của bà Vũ Thị Q nên bà Q khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy quy t định giải quy t khi u nại số: 3317/QĐ-UBND ngày 06/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. [2] Căn cứ Biên bản ti p xúc do Tổ công tác thuộc Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận B lập ngày 12/3/2014, căn cứ theo Bản đồ địa hình chụp năm 1982, Điều ảnh thực t năm 1988, tài liệu đất đai theo Chỉ thị 299/TTg, Văn bản số: 35/UBND ngày 18/01/2017 của Ủy ban nhân dân phường 22, quận B thì toàn bộ thửa số 94 tờ bản đồ số 1, phường 22, quận B có diện tích 64.840m2, trong đó có 1.300m2 bà Q và bà K trồng rau muống trên mặt nước là rạch và hồ Văn Thánh, là đất công do nhà nước quản lý từ trước đ n nay. [3] Dự án tuy n đường sắt đô thị B n Thành – Suối Tiên được thực hiện từ năm 2008, trước khi thực hiện thì bà Q đã được thông báo thu dọn trước nên không có thiệt hại thực t về hoa màu. Bà Q cho rằng diện tích 1.300m2 bà trồng rau muống có nguồn gốc do bà Hóa khai thác trồng rau trước năm 1975, năm 2002 bà sang nhượng lại và ti p tục trồng rau đ n nay nên được xem là đất nông nghiệp, nhà nước thu hồi thực hiện dự án thì phải bồi thường, hỗ trợ theo giá đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư. Tuy nhiên, xét bà Q không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh diện tích bà trồng rau muống là đất nông nghiệp, quá trình sử dụng bà hoàn toàn không có kê khai đăng ký. Theo giấy tay sang nhượng hoa màu ngày 25/02/2002 và giấy nhận cọc ngày 29/02/2002 bà xuất trình cũng thể hiện là chuyển nhượng hoa màu chứ không phải là chuyển nhượng đất rạch hay ao hồ. Từ khi sang nhượng đ n khi bị thu hồi bà cũng chỉ trồng rau muống trên mặt nước chứ không có san lấp, không có chuyển mục đích sử dụng làm đất ở hoặc kê khai xác định đất nông nghiệp, ao hồ. Theo các tài liệu về quản lý đất đai của địa phương quận B thì toàn bộ diện tích trên là rạch và hồ Văn Thánh, theo Luật đất đai là đất do nhà nước quản lý, nên yêu cầu được bồi thường, hỗ trợ theo diện đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án của bà Q là không có căn cứ, Chủ tịch UBND quận B và Chủ tịch UBND thành phố giải quy t bác khi u nại của bà Q là đúng đắn. [4] Bà Vũ Thị Q khởi kiện yêu cầu hủy quy t định giải quy t khi u nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh là không có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Q là đúng pháp luật. Bà Q kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận. Ý ki n của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, quy t định của bản án sơ thẩm được giữ nguyên. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. 1. Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Q và giữ nguyên quy t định của bản án sơ thẩm. Tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Q về việc yêu cầu hủy Quy t định về việc giải quy t khi u nại số: 3317/QĐ-UBND ngày 06/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. 2. Về án phí: Bà Vũ Thị Q phải chịu 200.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm và 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm. Khấu trừ tạm ứng án phí bà Q đã nộp gồm 200.000 đồng theo biên lai số AE/2011/03111 ngày 15/7/2016 và 300.000 đồng theo biên lai số 0047248 ngày 20/7/2017 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ