- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Bích Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị B ch T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 799/2020/HNGĐ-ST Ngày: 26/8/2020. V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH PH H CH MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Huỳnh Văn Bé.
2/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có: Ông Huỳnh Hải Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 198/2020/ QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị B. T, sinh năm 1993; (có mặt)
Địa chỉ: 125A đường 490, ấp 2, xã P.V .C, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C. T, sinh năm: 1992. (vắng mặt)
Thường trú: số 34/1 đường 419, ấp 6, xã PVA, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn xin ly hôn ngày 16/7/2018, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị B ch T trình bày:
Thông qua mai mối, bà và ông T tìm hiểu nhau khoảng 06 tháng thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, cưới nhau năm 2017, đăng ký kết hôn ngày 10/10/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống cùng nhà với cha mẹ chồng tại xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh. Chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do ông T cờ bạc, không lo làm ăn, về nhà hành hạ, đánh bà, bà phát hiện ông T chơi ma túy đá,… bà đã dẫn con về nhà cha mẹ ruột ở từ năm 2018 đến nay. Bà nhận thấy không thể tiếp tục sống với nhau được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Công T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày: 10/9/2017. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà xác định không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định không có.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp của mình gồm: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản ch nh); Bản sao giấy khai sinh; Chứng minh nhân dân + Sổ hộ khẩu (sao y).
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu ý kiến:
Về Tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án ph bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vẫn không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ gì có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà ph a nguyên đơn cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị B ch T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 10/10/2017 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận. Bởi l : Theo lời trình bày của bà T thì mâu thuẩn giữa bà với ông T là trầm trọng và không thể hàn gắn. Cuộc sống vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, thường xuyên gây gổ, cãi vả, nguyên nhân do ông T không lo làm ăn, suốt ngày cờ bạc, chơi ma túy và thường xuyên đánh bà, hai vợ chồng đã không qua lại gần hai năm. Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đ ch của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày: 10/9/2017. Xét yêu cầu của bà T là được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là có cơ sở chấp nhận vì trẻ Trâm A còn quá nhỏ và hiện trẻ đang ở với bà T. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T là không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nghĩa vụ dân sự chung: Bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở nên chấp nhận.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật ph và Lệ ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc bà Trâm phải nộp án ph dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Căn cứ Luật ph và Lệ ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị B ch T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị B ch T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Công T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 10/10/2017 của Ủy ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh cấp cho bà T và ông T không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày: 10/9/2017. Bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Khi có lý do ch nh đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu ông T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông T.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: không có.
4. Nghĩa vụ dân sự chung: không có.
5. Án ph dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) buộc bà Đỗ Thị B ch T phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án ph đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2019/0083571 ngày 02/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà Trâm đã nộp đủ tiền án ph dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được t nh từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Ch Minh; - VKSND H. Củ Chi; - Chi cục THADS H. Củ Chi; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: Vp, hồ sơ (12b). | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hùng Vƣơng |